Monday, 18 December 2017

Người Tị Nạn (P9)

Cảm tạ

Xin cảm ơn đội ngũ biên tập đã hỗ trợ cho bản in đầu.
Cảm ơn tất cả những người bạn tuyệt diệu ở nhà xuất bản của tôi, Grove Atlantic, đặc biệt nhất là Peter Blackstock, người cho rằng những truyện này viết khá ổn.
Cảm ơn ba và má tôi, Joseph và Linda. Là người tị nạn hồi 1954 và một lần nữa vào 1975, họ là những người can đảm nhất mà tôi được biết. Họ đã cứu mạng tôi.
Cảm ơn anh tôi, Tùng, một hình mẫu về người tị nạn thành công. Bảy năm sau khi đến Mỹ, anh được nhận vào trường đại học Harvard. Anh đã đặt ra một tiêu chuẩn cao cho tôi.
Cảm ơn Lan Dương, cũng là người tị nạn, tác giả, và bạn đời của tôi. Là độc giả trung thành cho mọi tác phẩm của tôi, cùng chia sẻ đau khổ và niềm vui.
Cảm ơn con trai tôi, Ellison, vì đã nhắc tôi nhớ về tuổi thơ.
Vào lúc cuốn sách này được xuất bản, nó sẽ gần bằng độ tuổi của tôi khi tôi trở thành người tị nạn.
VIET THANH NGUYEN

Người Tị Nạn (P8)

Tổ quốc

Đó là việc làm kỳ quái nhất trên đời, hoặc như người ta nói thế khi nghe chuyện ba của Phương đặt tên cho đám con thứ hai của ông theo tên của đám thứ nhất. Phương là con lớn nhất của đám con nhỏ hơn này, và trong suốt hăm ba năm trong đời cô đã tin rằng những người con kia của ba cô được nhiều phước lành hơn. Bằng chứng về vận may của họ được viết trong những lá thư ngắn gọn gởi về quê hàng năm bởi má của người trùng tên với Phương, bà vợ đầu của ông Lý, người liệt kê các thành tựu, chiều cao, và cân nặng từng đứa con của bà ta theo những chấm lớn đầu dòng. Ví dụ, đứa trùng tên với Phương, lớn hơn Phương bảy tuổi, cao hơn Phương mười lăm phân, nặng hơn hai chục ký, và, theo ghi nhận trong những bức ảnh kèm theo lá thư, có nước da sáng hơn, mịn hơn; một sống mũi mảnh hơn, thẳng hơn; và tóc, áo quần, giày, và kiểu trang điểm trở nên hợp thời trang hơn nữa khi cô tốt nghiệp một trường tư cho nữ sinh, rồi tốt nghiệp tiếp một trường đại học đẳng cấp, kế đó là trường y rồi tới giai đoạn làm bác sĩ nội trú ở Chicago. Ông Lý đã cho ép nhựa từng bức ảnh để chống lại độ ẩm và dấu tay, cất chúng thành chồng ngay ngắn trên cái bàn nhỏ cạnh trường kỷ trong phòng khách.
Những lá thư kèm ảnh chụp là loại thông báo duy nhất mà gia đình Phương nhận được về con cái trong nhà, trước đó trong suốt thời gian vắng mặt nhau khoảng hăm bảy năm, cô chị trùng tên với Phương và hai đứa em của cô chưa bao giờ tự viết một chữ. Vậy nên, khi lá thư đầu tiên như thế được gởi qua, nó trở thành nguồn cơn của một sự hào hứng cao độ. Lá thư được đề gởi cho ông Lý, người với tư cách kẻ toàn quyền trong nhà, luôn nhận trách nhiệm bóc thư. Ông ngồi trên trường kỷ và bóc phong bì một cách cẩn thận, sử dụng một trong vài món đồ xưa từ quá khứ mà ông còn xoay xở giữ được, một lưỡi dao bạc có cán ngà. Ngồi hai bên ông là Phương và má cô, trong khi hai đứa con trai mới lớn, Hạnh và Phúc, ngồi trên tay dựa và nghển cổ để cố nhìn vào những chữ mà cha chúng đọc thành tiếng. Lá thư còn ngắn hơn những thư của bà vợ trước viết, chỉ thông báo rằng cô chị cùng cha khác mẹ của Phương sẽ qua bên này trong kỳ nghỉ hai tuần, và cô ấy hy vọng lưu lại được ở chỗ họ.
“Vivien?” Bà Lý đọc cái tên ký ở cuối thư. “Bộ nó giỏi quá nên không xài cái tên ông đặt cho nó sao?”
Nhưng Phương biết ngay tại sao cô chị lại chọn cho mình một cái tên ngoại quốc, và nó là tên của ai: Vivien Leigh, minh tinh trong Cuốn Theo Chiều Gió, bộ phim ưa thích của cha cô, như có lần ông thoáng nhắc tới với cô. Phương đã xem phim đó trên băng video sang lậu, và lập tức bị thu hút vì vẻ quyến rũ, nét đẹp và sự u sầu của Scarlett O’Hara, nhân vật nữ chính và hiện thân của một miền Nam xấu số. Có quá đáng không khi cho rằng khối Liên minh sụp đổ, với ý thức bi kịch về chính mình của nó, không chỉ có sự tương đồng ngẫu nhiên với chế độ Cộng hòa miền Nam thất trận của cha cô cùng những tàn tích đầy phẫn uất của nó?
Nên trong những tuần chờ Vivien qua tới đây, khi ở nhà hay ở nơi làm việc, Phương dễ xây lên những kịch bản về một bà chị tử tế, đầy phong cách, ít nhiều nghiêm trang và buồn bã, nhưng vẫn dịu dàng và quý phái, một người sẽ lập tức yêu mến cô, trở thành người chỉ bảo và hướng dẫn mà Phương chưa bao giờ có. Việc thoáng nhìn thấy Vivien lần đầu tiên ở phi trường chỉ thêm khẳng định cái tên Vivien của một minh tinh thật phù hợp với cô thiếu nữ đang dừng lại ở mấy lớp cửa kính của nhà ga, với đôi mắt mở to sau cặp mắt kính to bản, miệng hơi hé khi đôi môi bóng loáng chu ra, đẩy cái xe chất vali màu đỏ thẫm, nặng cỡ thể trọng của chị. Khi nhảy lên và vẫy tay để Vivien trông thấy, Phương hồi hộp khi thấy chị mình hoàn toàn khác hẳn đám dân địa phương đang chờ bên ngoài để chào đón những người mới đến, cả mấy trăm con người bình thường mặc quần áo tẻ nhạt đang phe phẩy quạt dưới nắng nóng.
Ngay cả sau một tuần ở Sài Gòn, Vivien vẫn không có vẻ giống dân bản xứ hơn ngày đầu mới tới, ít nhất trong khung cảnh ngoài trời. Trên đường phố, ở quán cà phê lề đường, hay khi chui vào taxi, chị dễ dàng bị nghĩ lầm là cô vợ bèo nhèo của một doanh nhân Hàn Quốc hay một nữ du khách Nhật kiệt sức, lớp trang điểm của chị chảy ra dưới ánh nắng nhiệt đới. Tuy nhiên, trong một vài lúc khi đang ở nhà, chị rõ ràng là bà chủ trên lãnh địa của mình. Ðiều này đúng ở nhà hàng Nam Kha trên đường Ðồng Khởi, nơi Phương từng làm tiếp viên trong hai năm sau khi tốt nghiệp đại học. Ðãi cả nhà bữa tối tại Nam Kha là ý kiến của Vivien, một cách chào mừng kỳ nghỉ của chị được nửa chặng đường và là điều Phương chắc chẳng bao giờ gợi ý, những món ở nhà hàng này vượt quá xa khả năng của Phương hay gia đình cô.
“Nhưng như thế là tội ác, em không nghĩ vậy sao?” Vivien nói, liếc qua những món chính. Bàn của họ ở bên cạnh hồ nước phản chiếu ánh sáng, phía bên kia hồ có hai thiếu nữ ngồi trên bục lót nệm, mặc áo dài lụa, thanh thoát và nhẹ nhàng gẩy mười sáu dây của cây đàn tam thập lục đặt trong lòng họ. “Em phải ăn tại nơi em làm việc ít nhất một lần trong đời chứ.”
“Tính năm đô la cho món rau muống xào tỏi là một tội ác,” bà Lý nói. Bà bán vải lụa ở chợ Bến Thành và có con mắt của người mặc cả đầy kinh nghiệm, mượt mà và kín kẽ như những hạt nút trên bàn tính gẩy. “Ở chợ cô mua mớ này chỉ một đô.”
“Nhìn quanh đi,” ông Lý nói, giọng ông sốt ruột. Tất cả những khách khác đều là người da trắng ngoại trừ cặp người Ấn ngồi trong góc, người đàn ông mặc đồ vải lanh còn người phụ nữ mặc bộ đồ cổ truyền. “Ðấy là giá cho du khách.”
“Ðó là thứ giá ngu ngốc.”
“Bỏ qua giá cả thì đây là nhà hàng tốt,” Vivien nói. Giọng chị nghe đầy uy quyền, cái kiểu mà chắc chị vẫn dùng trong phòng khám bệnh ở Chicago. Không phải lần đầu, Phương tưởng tượng mình ở vị trí của chị ấy, mặc áo khoác trắng trong căn phòng màu trắng, nhìn ra bức tường nhiều cửa sổ qua màn tuyết trắng. “Em nghĩ sao?” Vivien đụng vào đầu gối cô. “Hơi quá với em hả?”
“Không hề!” Phương hy vọng cô bộc lộ một vẻ tự tin và thoải mái, không giống mấy đứa em. Hạnh và Phúc chẳng nói gì, mấy cuốn thực đơn bọc lụa đẹp hơn bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào chúng từng có. “Em có thể quen dần với chuyện này.”
“Như thế là đúng.”
Các khách ở bàn bên cạnh đứng dậy, và trên đường đi ra, hai người trong bọn họ dừng lại bên Phương, cô tóc nâu chụp hình nhạc công đang chơi đàn tam thập lục. “Họ cứ như bướm vậy,” cô ta nói với giọng Úc, liếc nhìn hình trong máy ảnh. Trộm nghe họ, Phương thấy nhẹ nhõm vì mình không phải là chủ đề thu hút họ. “Thật nhỏ nhắn và thanh nhã.”
“Tôi dám chắc họ chẳng bao giờ lo nghĩ về những món họ ăn.” Người bạn của cô ta mở hộp trang điểm để xem lại thỏi son. “Mấy bộ đồ đó trông cứ như được khâu vào người họ.”
Ðêm từng đêm, Phương đã quan sát những thói quen của các du khách giống thế này, bằng tốt nghiệp Sinh học của cô như trở nên vô nghĩa khi cô vừa mở cánh cửa nhà hàng Nam Kha vừa cúi đầu chào khách. Sau khi đến dùng bữa với những món ăn dân dã được bày biện trang nhã, những người khách dễ dàng có ấn tượng với nghệ thuật điêu khắc Chăm, những tấm liễn chữ Hán treo trên tường, và với chính Phương, cô gái có thân người mảnh mai và nhỏ nhắn trong tấm áo dài vàng vừa khít. Ðôi khi khách cũng xin phép chụp ảnh cô, những yêu cầu ban đầu gây thích thú nhưng bây giờ thường gây khó chịu. Tuy nhiên, cô không thể từ chối, như người quản lý của cô đã nói rõ, và do đó cô buộc phải mỉm cười và nghiêng đầu, một lưới tóc đen và mượt như vải quần của cô rũ xuống vai. Chọn tư thế này hay tư thế kia, Phương có thể vờ rằng mình không phải là một tiếp viên đang làm theo yêu cầu của khách nước ngoài, mà như một người mẫu, một ngôi sao mới nổi, người trùng tên với chị của mình. Thực sự bản thân trông ra sao thì cô chẳng bao giờ biết được, vì tuy ai cũng hứa sẽ gởi lại cho cô một bức nhưng tới nay chẳng người nào làm việc đó.
Khi đến đây, Vivien mang theo một danh sách những thắng cảnh chị muốn thấy, kèm theo thời gian đi đường ước lượng bằng xe lửa, xe hơi, tàu cánh ngầm, hoặc máy bay. Tổng thống Clinton đã đến đây năm ngoái, chuyến viếng thăm rất được chào mừng của ông khiến má chị tin rằng Vivien sẽ trở về an toàn, nhất là khi được võ trang bằng hộ chiếu Mỹ và những đồng đô la. Ðược trang bị như thế, Vivien đã thắng được sự phản đối chiếu lệ của cha chị và chi trả cho cả nhà trong mọi cuộc đi chơi của họ. “Chị là bác sĩ mà, phải không?” chị nói. Tuy Phương rất ấn tượng trước cách suy nghĩ của Vivien, cứ như đi nghỉ là một công việc để tìm thăng tiến trong đó, nhưng cô không ngạc nhiên. Những thông tin lác đác do má Vivien gởi đã gợi ra bức tranh về một phụ nữ trẻ độc lập, một bác sĩ nhi khoa chưa kết hôn từng du lịch ba lô một mình khắp Tây Âu và đi nghỉ ở Hawaii, Bahamas, Rio. Ông Lý, người kiếm sống khiêm tốn với nghề hướng dẫn du lịch, xem lại lịch trình Vivien đã lập và nói, “Ba cũng không làm tốt hơn được.”
Ông là người hiếm khi khen ngợi, ngoại trừ lúc nói tới ba đứa con đầu. Vợ ông đã đem chúng vượt biên sau chiến tranh, khi ông đi lao động cải tạo và vợ bé của ông tới xin tiền. Cho đến lúc đó má của Vivien không hề biết về sự có mặt của người phụ nữ kia, và phản ứng của bà là bỏ đất nước ra đi cùng ba đứa con trong một chuyến đi đầy nguy hiểm bằng thuyền. Ông Lý biết tin về chuyến bỏ trốn của họ khi ông mới bước qua một nửa bản án năm năm, sự mất mát này dẫn tới khoảng thời gian choáng nặng và trầm cảm mà ông không thoát ra được cho tới khi trở về Sài Gòn. Cuộc sống phải tiếp tục, bà vợ bé của ông nói, nên ông đã ly dị má của Vivien, biến bà vợ bé thành bà Lý thứ hai và đẻ ba đứa con nữa. Ông thường so sánh Phương với người chị vắng mặt của cô, điều đó bồi đắp trong Phương ngoài cảm giác mong mỏi Vivien còn là một ý ghen ghét không thể phủ nhận nào đó. Một con mọt ganh tị lộ mặt gần như mỗi ngày Vivien ở chơi, vì cha cô cư xử hoàn toàn không giống ông lâu nay, cứ như ông đang cạnh tranh để có một công việc, trong trường hợp này là giành lấy sự tán đồng của Vivien. Không nghi vấn hay phê phán, ông làm theo kế hoạch thăm các đền chùa và nhà thờ, thương xá và viện bảo tàng, các bãi biển và khu nghỉ mát, về phía nam tới tận Cà Mau, phía đông tới Vũng Tàu, phía bắc tới Ðà Lạt, và tại Sài Gòn, từ những ngõ nhỏ đông đúc, huyên náo của khu người Hoa trong Chợ Lớn cho đến cảnh quyến rũ của phố Ðồng Khởi ở khu trung tâm, nơi Nam Kha là nhà hàng đắt tiền nhất trên con đường này.
“Ðây giống Sài Gòn hồi xưa.” Ông Lý mỉm cười ngây ngô, nhìn chăm chú vào những màn nhung xếp nếp và cột đá hoa của nhà hàng. Thời chiến tranh, ông từng sở hữu một xưởng đóng giày, một ngôi nhà ven biển ở Vũng Tàu, một chiếc Citroën với tài xế riêng. Những ảnh chụp thời đó cho thấy một người đàn ông bảnh bao với mái tóc vuốt keo và hàng ria mép mỏng. Bây giờ, trong chừng mực Phương có thể nhận ra, ông mang nỗi buồn và sự thất bại thể hiện qua cái bụng bự mà chiếc áo nhỏ một số so với cỡ của ông hầu như không che phủ được. “L’Amiral trên đường Thái Lập Thành. La Tour d’Ivoire đường Trần Hưng Ðạo. Paprika, với thứ cơm thập cẩm và rượu vang đỏ Tây Ban Nha thượng hạng. Ba vẫn thường tới những nhà hàng đó.”
“Không phải với tôi,” bà Lý nói.
“Sáng mai con muốn làm gì?” Ông Lý hỏi Vivien. Chị rót thêm cho mình từ một chai vang Úc và nói, “Trong kế hoạch con còn để trống. Con luôn dành một hai ngày cho những chuyện bất ngờ.”
“Mình đi Ðầm Sen được không?” Hạnh nói. Phúc hăng hái gật đầu.
“Ðó là cái gì?” Vivien lại rót thêm vang.
“Một công viên giải trí,” Phương nói. Cô đang uống nước chanh, giống như má với hai đứa em. “Không xa lắm.”
“Chị từng làm trong một công viên như vậy hồi mười sáu tuổi,” Vivien nói. “Ðó là một mùa hè điên loạn.”
“Mình để dành vụ Ðầm Sen cho lần sau đi,” ông Lý nói. “Vì con đã thấy chỗ em con làm, để mai ba dẫn con đi theo một trong những tour tham quan của ba.”
“Trăm phần trăm.” Vivien nâng ly của chị lên, dùng lại câu mời cùng uống mà ông đã dạy chị.
Ông cụng ly với chị, nhìn âu yếm mấy đứa con trai, rồi nói, “Mấy con là thế hệ may mắn.”
“Con không chắc tụi con may mắn như vậy,” Phương nói.
“Con chẳng bao giờ trân trọng những thứ mình có.” Cha cô vẫy tay về phía bữa ăn và Phương siết chặt ly của mình, chuẩn bị nghe những câu chuyện về cha mẹ cô một lần nữa. “Con muốn nói về xui rủi hả? Sau khi người Mỹ bỏ chúng ta và chính quyền mới tống ba vào trại lao động cải tạo, bọn ba ăn khoai mì với rễ cây để sống. Có mọt trong gạo, thứ được nấu thành cháo loãng. Người ta mắc bệnh lỵ, sốt rét hay sốt xuất huyết y như cảm cúm thông thường rồi cứ thế mà chết thôi. Bọn ba còn có máu cho đỉa vắt nó hút thì cũng lạ đấy.”
“Ở nhà thì cũng đâu khá gì hơn,” bà Lý phụ họa. “Sau chiến tranh má bán mọi thứ để sinh sống. Cái máy may. Cái máy hát ông cho tôi, rồi mớ đĩa hát luôn.”
“Chuyện ngốc nhất là mấy bản tự kiểm.” Ông Lý nhìn chằm chằm cái ly của mình, cứ như mọi bài học mà ông học được ở trại lao động, một khi được chưng cất thành chất lỏng, chỉ để rót đầy cái ly đó. “Mỗi tuần ba phải bịa ra một cách mới để tự phê bình chuyện mình là thằng tư sản. Ba viết đủ số trang cho cả một cuốn tự truyện luôn, nhưng mỗi chương lại nói cùng một chuyện.”
Phương thở dài, nhưng Vivien nghe chăm chú, một bàn tay chống cằm. “Có một điều con luôn muốn biết.” Khi cha họ nhìn lên, Vivien nói, “Tại sao ba lấy tên tụi con đặt cho mấy đứa con ba có với bà vợ sau?”
Ðó là câu hỏi Phương chưa bao giờ nêu ra, sợ phải nghe câu trả lời mà cô luôn nghi ngại, rằng cô với hai đứa em chỉ là những nuối tiếc của một người cha tái sinh thành da thịt. Tuy nhiên, sự thẳng thắn của Vivien có vẻ không hề khiến cha cô kinh ngạc hay sững sờ, ông chỉ nâng ly và nói, “Nếu con không quay về thăm ba thì ba hiểu được thôi. Nhưng ba biết con sẽ trở lại để gặp đứa nhỏ mà ba đã lấy tên con đặt cho nó.”
Vivien liếc nhìn Phương, cô giữ một vẻ mặt lặng lẽ. Rốt cuộc, việc cha họ cư xử kiểu này, thiên vị người này người kia và tự thương thân, chẳng phải là do lỗi của Vivien. “Bởi thế con mới có mặt ở đây,” Vivien nói. Chị nhìn sâu vào mắt cha và cụng ly với ông. “Và ly này cho chúng ta.”
“Trăm phần trăm.” Ông Lý nói.
Trong bao nhiêu năm làm hướng dẫn viên du lịch, ông Lý chưa bao giờ bảo Phương đi cùng tour với ông. Dù chẳng bao giờ muốn đi, nhưng sáng hôm sau, khi lên xe, cô nhận ra có thể cô thích được yêu cầu như thế. Vivien không có vẻ trân trọng mối quan tâm đặc biệt của cha dành cho chị, hay vận may được làm du khách trong ngày hôm nay, hai đứa con trai đi học và má của Phương bận rộn ở chợ Bến Thành. Thay vào đó, Vivien tập trung chú ý vào tình trạng chật chội của chiếc xe già cỗi, thì thào những phàn nàn vào tai Phương về những tay du lịch bụi tóc dài, luôn ưu tư về tiền bạc, đang ép mình vào những chiếc ghế ngồi lót nệm mỏng dính và làm giàu cho công ty của ba họ. Rồi, bị chìm trong thời tiết ẩm từ khi bước ra khỏi chiếc xe buýt máy lạnh ở Bến Ðình, Vivien chỉ còn nước làu bàu rằng đây không giống với ý niệm của cô về một cuộc vui.
“Chị thậm chí không thích cắm trại,” Vivien nói khi chị em nối bước sau những du khách khác, lần bước quanh co qua những cây khuynh diệp và bụi tre nơi người ta bảo tồn hệ thống địa đạo huyền thoại của Củ Chi. “Chị thích thương xá hay viện bảo tàng hơn, nhưng ngay cả viện bảo tàng ở đây cũng không có máy lạnh.”
“Ba muốn chị thấy ông khi làm việc.” Phương nói một cách kiên nhẫn. “Ba làm việc gì cũng giỏi.”
“Ðừng kể với ba những điều chị nói nghe, được không? Chị không muốn làm tổn thương cảm xúc của ba.”
“Vậy là mình có một bí mật he?” Phương đùa.
“Chị em thì phải có bí mật chứ,” Vivien nói. “Ô Chúa ơi. Cái gì vậy? Ba mươi bốn độ à?”
“Cũng không tệ quá đâu. Trời thậm chí chưa nóng tới cỡ đó.”
“Chị bị chích rồi. Chị cảm thấy mà. Coi chân chị nè!”
Bắp chân và đùi của Vivien đầy những chỗ sưng mờ nhạt của những vết cắn còn mới và những đốm đỏ của những vết chích gây khó chịu. Là một bác sĩ nhi khoa và lữ hành dày dạn, nhưng Vivien tỏ ra thiếu khả năng chăm sóc thân thể mình đến mức đáng thương. Trong khi Phương đeo găng che cánh tay và vớ bên trong lớp quần jean, cô chị chỉ mặc áo thun lộ cả dây áo ngực và chiếc quần đôi lúc ngắn đến độ lộ ra phần lưng và sợi lọt khe của quần lót. Mặc dù để da trần, Vivien lại quên dùng thuốc chống muỗi và phàn nàn mỗi khi trời nóng, mà tình trạng đó, theo chị, xảy ra gần như mỗi giây cả ngày lẫn đêm. Tính mong manh dễ tổn thương của bà chị luân phiên trở thành nguồn cơn của phiền hà và thương mến đối với Phương, khiến Vivien bớt đáng ngại hơn và có lẽ xứng đáng với bí mật mà Phương muốn thổ lộ, một điều mà cô chưa bao giờ nói với gia đình và cũng là điều chỉ Vivien mới có thể hiểu.
“Ðây, thưa quý bà quý ông, là một bẫy chông.” Ông Lý nói bằng tiếng Anh, ra hiệu cho nhóm khách dừng lại. Hơn hai chục khách, toàn người Tây phương, bước lại gần ô cửa sập bằng tre. Ông kéo nó theo bản lề cho đến khi nó dựng đứng, bày ra cái hố sâu như huyệt mộ và dài như một quan tài, cỡ chục cây chông gỗ nhọn hoắt được cắm sâu vào đất. “Bước nhằm ô cửa là các bạn rơi ngay vào đó.”
Sau khi một cặp du khách chụp hình, ông Lý vẫy tay xua cả nhóm tới trước. Ông mặc áo sơ mi trắng ngắn tay với quần rộng màu xám và giày da nâu đánh xi bóng, trong khi ở nhà ông thường lang thang với quần đùi và, có lẽ, một cái áo thun lót. Ðiều lạ lùng nhất với Phương là việc thấy cha cô nói đùa và tán gẫu với du khách. Mỗi khi ông nói chuyện với Phương ở nhà, phần lớn là nhờ lấy thêm bia, hoặc sai cô lấy thuốc lá cho ông, hay làm món gì đó để ăn tối.
“Còn đây, là một đoạn hầm nguyên thủy.” Ông Lý dừng lại và chỉ vào một lỗ vuông bằng cỡ tờ giấy báo ngay gốc cây khuynh diệp, được đậy bằng tấm ván và lớp lá cây rải bên trên. “Ở đây, quân du kích sống suốt bao năm và tấn công lính Mỹ bất cứ lúc nào.”
Các du khách phần lớn là người Mỹ, nhưng câu chuyện này chẳng có vẻ gì là phật lòng họ. Thay vì thế, họ có vẻ hào hứng, giơ cao máy chụp hình khi ông giở tấm ván để cho thấy lối vào hẹp, tối đen. Ở xa xa, từ bãi tập bắn, một khẩu súng máy nổ cả băng đạn, mỗi viên giá một đô la, theo cha họ nói. Phương ngạc nhiên với chuyện làm sao những du khách này lại muốn tiêu tiền và cả ngày trời của họ ở đây, thay vì ở bãi biển, hay ở một nhà hàng ly kỳ nào đó, hay trên võng trong một quán cà phê đồng quê ven sông. Lý do cho cách ứng xử như vậy, theo cha cô, là do du khách chỉ biết một điều về đất nước này, đó là chiến tranh. Nên những địa đạo này là thứ phải đến xem trong lịch trình của họ.
“Lát nữa chúng ta xem những địa đạo mới, được nới ra đủ lớn cho quý vị. Lần trước một người Mỹ chui vào địa đạo này rồi không ra được. Ông ta quá mập!” Ðể minh họa cho mô tả của mình ông dang tay và nắm hai tay với nhau, tạo thành một vòng tròn lớn trên cao. “Ai muốn thử không?”
Các du khách cười và lắc đầu, người nhỏ con nhất trong bọn họ cũng cao bằng cha của Phương. Phương sợ rằng ông có thể bảo cô tuột vào một miệng hầm, nhưng khi không có ai muốn thử, cha cô cau mặt và giơ nắm đấm lên. “Ðây là cách chúng tôi giành được chiến thắng!” ông kêu lên. Một máy ảnh lóa đèn. “Chúng tôi thống nhất đất nước bằng lòng can đảm và sự hy sinh!”
Hai máy ảnh khác lóe sáng khi cha họ giữ nguyên tư thế.
“Có phải ba đã nói cái câu mà chị vừa nghe thấy đó không?” Vivien thì thào.
“Ổng không thực lòng muốn nói thế đâu. Ðó chỉ là màn diễn.”
Nhưng Phương e rằng với du khách, màn diễn là sự kiện thực. Là người nước ngoài, họ không thể nhìn ra sự khác biệt giữa một người tiếp quản và một người tại chỗ bị đưa đi lao động cải tạo. Trong vài ngày, hay một tuần, hoặc hai tuần, họ sẽ rời đi, ký ức sống động nhất của họ về ngày hôm nay là trải nghiệm thú vị với việc bò bằng đầu gối qua đường hầm, và ký ức mờ nhạt về một tay hướng dẫn viên nhỏ thó nhiệt thành cùng thứ tiếng Anh ngồ ngộ của ông. Với họ tất cả chúng ta là như nhau, Phương hiểu với một cảm giác trộn lẫn giận dữ và xấu hổ – nho nhỏ, hấp dẫn, và chẳng có gì đáng nhớ. Cô e rằng bà chị của cô có thể cũng nhìn cô theo kiểu đó, nhưng khi cha cô vẫy tay ra hiệu cho đám du khách đi tiếp và Vivien nối bước, chị ta có vẻ chỉ quan tâm đến việc xua đi bầy muỗi nhỏ đang lờn vờn xung quanh.
Vào đêm áp chót Vivien ở Sài Gòn, chị với cha mình uống bốn ve rượu gạo trong một nhà hàng Tàu ở Chợ Lớn. Sau khi về nhà, ông đi dạo với vợ để cho nhẹ cái đầu say lơ mơ trong khi Hạnh và Phúc lăn ra khoảng sàn đã trải nệm trong phòng khách, chỗ ngủ của chúng cạnh mấy cái xe gắn máy. Trên gác, sau khi Vivien đóng cửa dẫn qua phòng mà Phương ngủ chung với cha mẹ, chị kéo một trong những vali đỏ tía dưới gầm giường của Phương ra. Vali đó từng chất đầy những món quà của Vivien và má chị, từ quần jean, áo sơ mi tới thuốc men và đồ trang điểm, đến cả dầu gội và dầu dưỡng ẩm được đóng chai ở Mỹ và do đó có giá trị hơn thứ cùng nhãn hiệu nhưng được đóng chai trong nhà máy địa phương. Bây giờ cái vali đó đầy đồ lưu niệm, một búp bê bằng sứ mặc áo dài lụa cho má của Vivien, những chiếc xe xích lô bằng gỗ tếch khắc tạc thủ công cho hai đứa em, một chai rượu đế ngâm rắn hổ cho cha dượng, và, cho các bạn cô là mấy cái áo thun in khuôn mặt hiền từ của Hồ Chí Minh. Nhưng khi Vivien mở vali, cô không lấy ra những món kỷ niệm đó hay vật dụng cá nhân của mình. Thay vào đó, sau khi lục lọi tuốt bên dưới, cô lôi ra một túi nhỏ màu hồng, ít nhiều nhăn nheo do vận chuyển, và đưa nó cho Phương.
“Chị có món cuối cùng này cho em gái nhỏ,” Vivien nói. “Chị không chắc có nên đưa cho em không, nhưng vì chị đã chuẩn bị trước.”
In trên mặt túi là dòng Victoria’s Secret bằng kiểu chữ viết tay. Bên trong là áo nịt ngực ren đen và quần lót ren đen, một quần lót lọt khe mỏng manh thay vì thứ bằng vải bông phủ kín mít, gây ngứa ngáy mà má Phương vẫn mua cho cô nguyên hộp cả tá.
“Em không mặc được thứ này đâu!” Phương nói, mặt ửng đỏ. “Mang tiếng chết!”
“Thôi mà, mặc thử coi,” Vivien lôi trong túi ra cái quần lót nhỏ xíu gần như không tồn tại và ấn vào tay Phương. “Chị không tưởng tượng nổi là em đang xài mấy thứ cổ lỗ sĩ đó.”
Phương lưỡng lự một lát. Nhưng Vivien là chị cô và là bác sĩ, cũng chẳng có lý do gì phải mắc cỡ. Cô lẹ làng tuột bộ đồ ngủ bằng tơ nhân tạo và đồ lót bằng vải thô, và cũng nhanh như vậy tròng quần lót và áo ngực mới vào. Vivien gật gù tán thưởng và nói, “Giờ trông em hấp dẫn dễ sợ. Cậu nào thấy được em mặc thứ này là may mắn lắm”.
“Ba má không cho em mặc thứ này đâu.” Phương ngần ngại, nhưng rồi cũng thò tay lấy cái gương cầm tay treo ở cái đinh trên tường. Sự cọ xát của lớp ren trên da thịt và hình ảnh thân thể gần như trần truồng của cô, với trang phục khiêu gợi như thế, thật kích động. “Chỉ thứ gái hư mới mặc thứ này.”
“Ðến lúc em nên hư rồi,” Vivien nói, ngáp dài. “Chúa ơi, em hăm ba rồi! Em thậm chí còn không muốn biết chị làm gì lúc hăm ba.”
Ngay cả khi đã mặc lại bộ đồ ngủ, cô vẫn thấy rõ hình ảnh mình trong gương, những phần da thịt phô bày sau mảnh trang phục mỏng manh. Cô kéo tấm màn ngăn cách phần của cô với khu của cha mẹ và chui vào giường cùng Vivien, lúc đó đã cất vali và mặc bộ đồ ngủ của chị. Nằm đó với cánh tay kề bên nhau, cô cảm thấy món quà của bà chị đã khiến cho mối quan hệ của họ nhiều thân mật và tin tưởng hơn.
“Tới Chicago thì đầu tiên chị làm gì? Gọi cho má chị hả?”
“Chạy xe một mình một hồi thiệt lâu. Chị nhớ cái xe của chị.”
“Em thậm chí không quen ai có xe hơi.”
Vivien nhìn lên cái quạt trần đang khuấy động bầu không khí oi ả của một đêm ẩm ướt tiêu biểu. Ô cửa sổ mở chỉ đón được những cơn gió mong manh nhất.
“Chị nói với em một bí mật được không?” Vivien hỏi.
“Chị nói rồi mà.”
“Nói cái gì?”
“Một bí mật.” Khi quay đầu lại, Phương có thể nhìn vào lỗ tai của Vivien, cái ống nhỏ và tối. “Ở Củ Chi.”
“Vậy là nói rồi.” Vivien gãi một vết cắn ở cổ. “Chị nghĩ mình có thể tới đây và có thể thương ba mình.”
“Chị không thương ba hả?” Phương đưa tay chõi đầu lên. “Hay chị đã không thương từ trước?”
“Với em thì thương ba là quá dễ.” Vivien thở dài. “Cũng dễ cho ba khi thương chị nữa. Mà chuyện đời là phải vậy. Ba nhớ chị. Chị không nhớ ba. Em có thương được người nào mà em không nhớ không? Em có yêu được người mà em không biết không?”
“Em không chắc.” Một tràng những tiếng cười hinh hích và ha há vọng từ ngoài hẻm vào, mấy bà già hàng xóm đang ngồi ở ngưỡng cửa nhà họ, tán chuyện thiên hạ trước khi đi ngủ. “Nhưng em biết ba không dễ mà thương được.”
“Phụ nữ không thể đem lòng thương một người mà cô ấy thấy tội nghiệp. Phải không?”
“Em chưa từng đem lòng thương ai nên em không biết.” Tiếng rít của cổng sắt vốn là cửa trước của phòng khách cho họ biết cha mẹ họ về. “Nhưng chị nói điều đó sai rồi. Chị không đem lòng thương, chị chỉ muốn thương người đó thôi.”
“Em biết má chị nói gì khi chị nói chị sẽ về Việt Nam không?” Vivien ngừng lại. “Ba mày chỉ làm tan nát trái tim mày thôi.”
Rồi Vivien lăn qua nằm nghiêng xoay mặt vào tường, trên đó có một con tắc kè xanh nằm kiên nhẫn trên mặt xi măng. Cầu thang kêu cọt kẹt khi ông bà Lý đi lên, những nốt nhạc chõi nhau cùng tạo thành đoạn cuối cho một ngày quá quen thuộc của Phương mà chỉ có chuyến ghé chơi của Vivien mới làm cô nhận ra. Sự hiện diện của bà chị trên giường của Phương và cảm giác vuốt ve của vải ren trên da thịt đã chuốt sắc cây bút chì nhận thức cùn lụt của Phương, cho phép cô viết ra trong tâm trí mình bản phác thảo cho những nhân vật trong đời mình mỗi lúc một chính xác hơn. Không ai được vẽ ra rõ nét hơn cha cô, người mà cô thương hại và, tệ hơn, không hề kính trọng. Nếu ông chỉ là một kẻ ngoại tình hay tay chơi bời, lúc đó sẽ có lý do để phẫn nộ, nhưng ông đang ở giai đoạn suy sụp, một thất bại mà chút sức hút còn lại của thời sống băng hoại và cư xử tệ cũng không còn. Ðây là vấn đề của nỗi buồn và ngượng ngùng quá đủ để đến khi cái bóng của cha cô xuất hiện ở cửa, Phương vẫn xoay nằm nghiêng. Ở tư thế đó, ép vào lưng của bà chị trong một đêm ẩm ướt, cô phát hiện ra rằng cho dù đang nằm Vivien cũng bắt đầu đổ mồ hôi.
Tại công viên giải trí vào sáng hôm sau, ông Lý chụp hình các con ở cổng vào với chiếc máy ảnh xài một lần, một món quà của bà vợ trước nhờ Vivien đem qua. Sau khi Vivien trả tiền vé cho cả nhà, Hạnh và Phúc giành chỗ dẫn đầu, Hạnh kéo tay mẹ nó. Họ len lỏi qua những nhóm lộn xộn nào đám học trò tiểu học nam lẫn nữ, nào binh đoàn áo đỏ với nón lưỡi trai. Một đường ray tàu băng suốt công viên phía trên những đám đông nhộn nhạo, và ở xa xa, một đường tàu lượn siêu tốc chạy rầm rầm. Một khu triển lãm mau chóng thu hút sự chú ý của Phương, tên gọi lạ lẫm bằng tiếng Anh của nó là “Ice Lantern” (Băng đăng). Trên một tấm bảng bên ngoài, những ảnh màu rực rỡ mô tả những mô hình bằng băng của tháp Eiffel, đền Taj Mahal, và những kỳ quan nhân tạo khác của thế giới, được thắp sáng trong một đường cầu vồng gồm những bóng đèn huỳnh quang. “Ðể dành cái này coi sau đi,” cô nói, “khi mình cần giảm nhiệt.”
“Kế hoạch hay đó,” Vivien nói, tự quạt mình bằng tờ quảng cáo của khu công viên.
Sau khi chơi xe điện đụng theo yêu cầu của Hạnh với Phúc, bà Lý nhất định ghé vườn lan Nhật Bản. Nhiều cặp nam nữ tạo dáng để chụp hình cưới ở các góc khác nhau, những cô dâu đội voan trong bộ váy cưới kiểu Tây phương và chú rể trong lễ phục trắng, hoa hồng đỏ cài trên ve áo. Bà Lý trầm trồ trước quang cảnh này, nhưng Hạnh với Phúc ngó lơ chỗ khác và hỏi Vivien điểm kế tiếp có phải là vòng đu quay đang quay chậm rãi phía trên khu máng trượt nước hay không. Chính bà Lý là người leo vào một toa của vòng đu quay cùng hai đứa con trai, trong khi ông Lý không chịu vào một toa khác cùng hai đứa con gái, với lý do sợ độ cao. Khi họ lên cao dần, Vivien ngắm quang cảnh qua cửa sổ có chấn song ở phía bên chị, bên dưới đó, trên bức tường vôi xanh có người đã vẽ một cô gái dạng người que với nùi tóc và ngón tay nhá hình chữ V. Phương chồm nhìn qua vai chị, hơi thở của cô mơn trớn một sợi tóc bên tai Vivien. Vivien vuốt sợi tóc ra sau và chỉ về phía tàu lượn siêu tốc đang dần bò lên như một con sâu bướm lộn ngược với mấy chục cánh tay người vung vẩy trong không khí. “Chị từng làm việc trên một đường chạy như vậy,” Vivien nói. “Bạn chị đứa nào cũng tìm việc làm ở công viên để dễ dàng gặp đám con trai.”
“Chị có tìm được bạn trai không?” Phương tựa một bên vai vào cánh tay bà chị. Cô không nói với Vivien rằng cô vẫn đang mặc món quà tặng của chị ấy, thích thú trong trang phục đó giống một đứa trẻ với món đồ chơi mới lạ và kỳ thú. “Anh ấy đẹp trai không?”
“Rod rất dễ thương. Anh ấy thường chở chị về nhà, rồi bọn chị đi dạo tiếp trên một nhánh đường nào đó gần khu nhà chị, công viên, rồi… hôn. Chị nghĩ em chưa làm thế, phải không?”
“Chưa.”
“Em chưa gặp anh chàng nào em thích sao?”
“Em không muốn có bất cứ ràng buộc nào,” Phương nói chắc nịch. “Em không muốn có ai níu em lại.”
“Khỏi cái gì?”
Ở trung tâm công viên là một cái hồ có hình dạng như cái dĩa, những xuồng đạp nước như những vụn bánh nổi trên mặt cái dĩa đó. Khu vực chạy nhô ra mặt hồ là chỗ họ đến lúc giữa trưa, một nhà hàng có hình đầu rồng, chia đôi vùng nước như chuyến lên đường ngày mai của Vivien sẽ chia đôi mọi người lần nữa thành người ở lại và kẻ ra đi.
“Giờ em nói chị nghe một bí mật được không?”
Vivien mỉm cười, “Chắc chắn rồi.”
Phương tìm lời lẽ để nói điều mà cô chưa từng nói với ai trước đó, chuyện một ngày kia cô cũng có thể lên đường, vì Sài Gòn buồn chán và bản thân đất nước này cũng không đủ lớn cho những khát khao trong lòng cô. “Em muốn được giống như chị,” Phương nói, nắm chặt tay bà chị trong tay mình. “Em muốn tới Mỹ, trở thành bác sĩ và giúp đỡ người ta. Em không muốn dùng đời mình phục vụ bàn ăn người khác. Em muốn người ta phục vụ mình. Em muốn du lịch tới bất cứ chỗ nào em muốn, bất cứ lúc nào em muốn. Em muốn trở lại đây và biết mình có thể ra đi. Nếu ở lại đây em sẽ cưới anh chàng nào đó chẳng có tương lai và sống với gia đình anh ta, rồi sớm có hai con và ngủ trong căn phòng mà cùng một lúc em có thể chạm được cả hai bức tường. Em nghĩ mình không chịu nổi cảnh đó. Em thực tình không chịu nổi. Chị có bao giờ cảm thấy như thế không?”
“Ồ Chúa ơi,” Vivien thốt lên, nhìn lên trần của toa đu quay. Phương đã hy vọng thấy vẻ nhiệt tình và có thể chấp nhận vẻ miễn cưỡng, bối rối, hoặc vẻ hạ cố, nhưng cô không dự trù cho vẻ hoảng loạn trên mặt chị cô. “Chị đã nói với bà ấy nên nói thật với mọi người nhà bên này đi mà.”
Tàu lượn siêu tốc lao xuống theo đường ray, các hành khách rú lên. Khi Vivien chuyển đổi tư thế ngồi và rút tay ra, cánh tay chị rời khỏi vai Phương phát ra âm của sức hút dính ẩm ướt, không khí chẳng mát hơn gì dưới kia.
“Chị đang nói về ai vậy?”
“Má chị.” Vivien hít một hơi dài và lại nhìn ra ô cửa sổ chấn song. “Em có biết rằng khi tới đất Mỹ, má nói với chính phủ rằng má mới hăm lăm không?”
“Vậy à?” Một giọt mồ hôi lăn xuống tới thắt lưng Phương.
“Bà đã ba mươi.”
“Em hiểu được phụ nữ làm thế.”
“Má chị cũng khai với chính phủ rằng bà góa chồng.” Vivien quay lại nhìn vào ánh mắt của Phương. “Má chị đã nói dối khi kể với ba mình rằng chị là bác sĩ.”
Phương chớp mắt. “Chị không phải bác sĩ hả?”
“Chị là nhân viên tiếp tân đang thất nghiệp. Chị bị mất việc ngay cái tháng trước khi chị qua đây. Má chị với ba dượng đâu có cái nhà nào ở ngoại ô đâu. Họ sống trong một căn hộ chung vách ở West Tulsa. Và má chị chẳng làm chủ mỹ viện Nice Nail gì cả. Bà ấy làm chuyên viên thẩm mỹ ở đó.”
“Vậy tại sao phải nói với nhà em rằng chị là bác sĩ?”
“Bởi vì cả nhà muốn biết chị kiếm mỗi tháng được bao nhiêu, rồi chị trả thế chấp bao nhiêu, rồi cái xe tốn hết bao nhiêu. Chỉ trả lời khơi khơi thì dễ hơn nói rằng chị không phải bác sĩ. Nói để em biết thôi, toàn bộ câu chuyện về chị là bác sĩ nhi khoa là ý của má chị chứ không phải của chị.” Toa đu quay đã lên tới đỉnh, có thể thấy rõ một con voi bị xiềng ở cổ chân tuốt bên dưới, một đồ chơi lên dây cót khật khưỡng tới lui. “Má chị cũng biểu đừng hẹn hò với sếp của chị, nhất là khi ông ấy đã có vợ.”
“Sếp của chị? Ông dính gì trong chuyện này?”
“Ổng nói nó chẳng phải tại chị, nó tại nền kinh tế,” Vivien khóc. “Em có bao giờ nghe chuyện gì ngu ngốc như vậy không?”
“Không,” Phương nói. “Trước đây chưa từng có ai cắt đứt quan hệ với em.”
“Chuyện đó xảy ra cho mọi người mà.” Mắt Vivien rươm rướm. “Thế là chị nghĩ chuyện về đây. Một lý do ngốc nghếch, phải không?”
“Em tưởng chị về đây thăm cả nhà.”
“Ðó cũng là một phần.”
“Còn tiền bạc tiêu xài chị lấy đâu ra?” Phương không nhớ rõ được bà chị đã xài hết bao nhiêu, nhưng cô biết nó cỡ mấy ngàn đô. Chỉ mớ phong bì quà tặng mà Vivien phân phát vào tối đầu tiên ở Sài Gòn cũng hết sáu trăm cho ông bà Lý, thêm hai trăm cho Phương và hai đứa em mỗi đứa một trăm. “Rồi toàn bộ các bữa tối với vé vào cửa? Chuyến du lịch Ðà Lạt và Vũng Tàu?”
“Ở Mỹ, người ta trả mình khoản trợ cấp khi cho mình nghỉ việc. Ngay cả tiếp tân cho công ty lớn cũng kiếm được tấm chi phiếu kha khá.” Vivien mò mẫm trong ví khi toa của họ tiếp tục xuống thấp. “Chị cũng có thẻ tín dụng. Chị không phiền chuyện tiêu tiền. Chị muốn cho em thấy một quãng thời gian vui sướng. Em chưa từng đi đâu cả.”
Công trình nổi bật nhất của công viên sừng sững trước mặt họ, một ngọn núi sơn màu đỏ phù sa, rỗng và có chất kim loại. “Ðiều đó không quan trọng,” Phương nói. Không có gì quan trọng cả, những lời nói dối cũng như thực tế rằng Vivien có mọi thứ, ngay cả cái tên của Phương mà chị ấy chẳng buồn dùng. “Chị đâu cần phải là bác sĩ thì mới bảo lãnh em được.”
“Khăn giấy của chị đâu rồi?” Vivien lau nước mắt bằng tay.
“Em không quấy phiền chị đâu.” Phương chạm vào cánh tay nhớp mồ hôi của Vivien. Toa của họ tiến gần về bến. “Em sẽ tìm việc. Em sẽ tự lo thân. Em sẽ chăm sóc chị.”
Vivien khớp miệng ví lại, vẫn còn khóc. “Chị rất tiếc, Phương. Khi quay về, chị sẽ sắp xếp lại cuộc sống. Chị sẽ phải trả hết nợ trong bốn thẻ tín dụng cùng với các khoản nợ đại học và hy vọng người ta không tịch biên nhà của chị.”
“Nhưng…”
“Chị sẽ không có thời gian để lo lắng về một cô em gái.” Bây giờ Vivien mới là người nắm lấy tay Phương trong bàn tay ướt nước mắt của mình. “Em hiểu được điều đó không? Làm ơn?”
Khi nhân viên mở cửa toa, cha họ đang đứng chờ, máy ảnh xài một lần giơ lên mắt, vợ ông đứng sau lưng ông với hai cậu con trai. Vòng đu quay chạy với tốc độ chừng mực, đủ chậm để họ bước ra, Vivien trước. Một tuần sau cha họ sẽ rửa hình và Phương sẽ cần một lúc để nhận ra ai vắng mặt bên dưới lớp nhựa trong suốt. Vivien trông thật rõ trong khung cửa, mắt ướt và lớp trang điểm bị nhòe, nhưng do thời điểm hay sắp xếp tình cờ mà chính Phương lại không thấy có trong ảnh.
Tuy phải hăm sáu năm Vivien mới gởi lá thư đầu tiên về nhà, nhưng lá thư thứ hai chỉ mất một tháng. Một tối nọ Phương từ Nam Kha về thì thấy cha mẹ với các em tụ tập quanh cái bàn trong phòng khách, xem mãi chồng ảnh mà Vivien gởi kèm. Một bà Lý tươi cười và vui vẻ vẫy lá thư với Phương, một tờ giấy đơn mà bà đọc khi ngồi trên tay dựa của trường kỷ. Lá thư kể lại những ký ức tuyệt vời của Vivien, ăn tối trong một nhà hàng nổi trên sông Sài Gòn, mặc vừa khít một cái áo dài đặt may, đi dạo bằng xe ngựa quanh hồ Xuân Hương ở Ðà Lạt, với ngày tuyệt nhất là ngày về đến và tệ nhất là ngày ra đi. Con nhìn ra cửa sổ máy bay cho đến khi không nhìn thấy quê hương nữa, chị ấy viết. Mọi thứ cứ xanh mướt vậy. Ðến giây phút mây che phủ hết, con chỉ muốn được quay trở lại. Và lá thư cứ như thế, sự giả dối của bà chị khiến Phương muốn ói đến độ cô chỉ làm được một việc là không xé lá thư làm hai.
“Ngày mai ba muốn con cho ép nhựa mấy bức này,” ông Lý nói, lựa qua các ảnh chụp mà Vivien gởi về. “Mình sẽ làm thành một cuốn album.”
“Ðể chi vậy?” Phương nói, thảy lá thư xuống mặt bàn.
“Con nói để chi vậy là sao?” Ông Lý ngớ ra. “Thì để mình có cái mà nhớ tới nó cho tới khi nó trở lại.”
Phương nhìn kỹ cha mình khi ông ngồi trên trường kỷ, vây quanh là má và em trai cô, giữ chặt những bức ảnh cứ như chúng tương đương với những tờ trăm đô mà Vivien đã cho ông. Lần đầu tiên trong đời cô thấy tội nghiệp cho ông, chắc chắn rằng không chỉ có cha cô làm tan nát trái tim của con gái ông ấy, mà những đứa con gái một ngày kia cũng làm tim ông tan nát. Cô ngẫm nghĩ việc nói cho ông biết sự thật, rằng Vivien sẽ không bao giờ trở lại, và rằng một ngày kia, có lẽ không sớm lắm, nhưng rốt cuộc là thế, Phương cũng sẽ ra đi, để đến một thế giới mà cô có thể đem lòng thương ai đó mà cô không biết. Nó chỉ là vấn đề thời gian, và bây giờ cô đã biết cách khởi sự.
Lúc chín giờ sáng hôm sau cô chỉ có một mình trong nhà, hai đứa em trai đã đi học, cha mẹ cô đi làm. Cô mặc món quà tặng của bà chị, và bên ngoài lớp ren cô mặc chiếc áo cánh và quần lửng. Cô thầm nghĩ, tốt nhất là làm những việc cần làm ngoài trời, và thế là cô đặt một cái ghế đẩu bên cổng phòng khách và một cái xô thiếc trên lối đi ngoài hẻm. Khi cô mở phong bì đựng mấy bức ảnh, bức đầu tiên cô thấy là hình cha cô và Vivien lạnh run trong khu Băng Ðăng của công viên giải trí, chỗ dừng chân cuối cùng của họ trong ngày đó. Ở lối vào, một nhân viên đã phát cho họ áo chống lạnh bằng sợi nhân tạo, có mũ trùm, dài tới gối, và có màu sắc tươi chói gồm vàng, hồng, cam, và xanh lục. Dù đã mặc thứ áo ấy, việc bước chân từ cửa vào hầm Băng Ðăng vẫn là một cú sốc, vì chủ yếu nó là một cái tủ lạnh khổng lồ, một hành lang vọng âm tạo thành một vòng đi dạo qua những điểm du lịch nổi tiếng của thế giới, được tạc bằng băng với kích cỡ ngang đầu người. Những cây đèn nê ông chói lóa có cùng phổ màu như những áo chống lạnh soi sáng những tác phẩm điêu khắc, những đám đông vội vàng đi qua, và hai ống máng trượt, cũng làm bằng băng, với những đứa trẻ ré lên khi trượt xuống đó.
“Cái này thật kỳ lạ,” Vivien nói, so vai vì lạnh khi cô đứng trước phiên bản thu nhỏ của cầu Tower ở London. Chính chỗ này, Vivien cùng cha cô chụp một bức ảnh, không xa mấy với kim tự tháp Ai Cập đông cứng và tượng Nhân sư phủ sương muối. Trong khi Phương nhắm ống kính máy ảnh của Vivien, người cha và đứa con gái vòng tay ôm eo nhau. Phương đã chụp bức ảnh đó một cách máy móc, không chú ý lắm đến hình ảnh kỹ thuật số nhỏ xíu sau khi nó lóa lên trên màn hình. Nhưng bây giờ, cầm bức ảnh khi ngồi trên ghế đẩu, cô có thể chú ý từng chi tiết. Với mũ còn trùm kín đầu, chỉ hai khuôn mặt tam giác, tái xanh của cha cô và chị cô là nhìn thấy được, như hai cánh hoa trắng trôi trên những tấm lá súng màu xanh đọt chuối tươi rói. Trong ánh rực rỡ của Băng Ðăng, khuôn mặt chị cô trông giống cha cô hơn chính cô, sự đối xứng thể hiện rõ những điều mà bây giờ Phương có thể nói ra. Cha cô thương Vivien hơn cô.
Bức ảnh bắt lửa dễ dàng khi cô đốt nó với một que diêm. Sau khi buông bức ảnh vào cái xô, cô nhìn nó cuộn quăn lại và run rẩy, nhớ lại lúc Vivien tiến đến bên cô sau khi cô chụp xong và cố đền bù. “Chị không bao giờ nghĩ mình sẽ nói điều này ở đây,” Vivien nói, mỉm cười khi nắm tay Phương, “nhưng chị lạnh quá.” Sau đó cả một tháng, Phương vẫn cảm thấy cái lạnh đó, và nhớ cô đã run rẩy và quay qua phía đám cát như thủy tinh của Ai Cập. Cô giữ ngọn lửa bằng mấy bức ảnh nữa và hơi nóng của chúng giữ ấm cho cô, hơn hai chục bức nữa biến mất cho đến khi chỉ còn lại một bức, chụp Vivien và Phương ở phi trường vào buổi sáng Vivien lên đường, Vivien với một cánh tay quàng vai Phương và giơ hai ngón tay làm dấu chữ V.
Không như chị mình, Phương không cười. Cha họ đã bắt cô mặc một chiếc áo dài trong ngày Vivien lên đường, và cô trông nghiêm trang, u ám trong lớp áo lụa đó. Vẻ mặt của cô là kiểu thường thấy ở những người lớn tuổi hơn thuộc thế hệ trước khi họ đứng trước ống kính, chụp ảnh là một dịp hiếm hoi và đầy nghi thức dành cho những đám ma hay đám cưới. Bức ảnh bùng lên khi cô cho lửa chạm vào nó, nét mặt của Vivien tan đi trước rồi đến nét mặt cô, khuôn mặt của họ chìm dần trong ngọn lửa. Sau khi những tàn lửa từ bức ảnh này và mấy bức kia tắt hẳn, Phương đứng dậy và rắc tro tàn. Cô sắp quay người và bước vào nhà thì một cơn gió thổi dọc con hẻm, cuốn được đám tro và thổi nó đi. Một cơn gió mạnh bốc lên trên những mái nhà gần bên, và cô không thể không dừng lại trong chốc lát để ngắm bầu trời trong và thăm thẳm mà đám tro tan biến vào đó, tựa như một cái tô màu xanh bằng pha lê hảo hạng úp xuống, bao phủ trọn Sài Gòn đến hết tầm mắt của cô.

Người Tị Nạn (P7)

Một ai đó khác ngoài bạn

Bà bạn của ba tôi sống trong một khu căn hộ cao cấp được xây dựng sao cho trông giống một ngôi làng, những dãy nhà trát vữa mịn rải rác quanh một bãi cỏ phẳng phiu có xây sẵn những hố nướng thịt. Phía sau dãy nhà nọ có cái máy thổi lá cây kêu vu vu khi tôi đi theo ba tôi trên một lối đi uốn lượn có lát gạch, qua một hồ tắm bốc mùi clo, và đi lên một đường cầu thang đầy tiếng dội. Chúng tôi dừng ở tầng hai, và ba tôi dùng chìa khóa móc trong xâu chung với con dao Swiss Army của ông để mở cửa căn hộ. Khi ông kêu tên bà ấy – Mimi – đó là lần đầu tiên tôi nghe thấy cái tên đó.
Mimi ngồi trên sofa bọc da trắng trong phòng khách, dùng bộ điều khiển từ xa để giảm âm lượng của tivi đặt trong góc phòng. Bà đứng dậy, và nếu có ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi thì bà cũng không lộ ra. Bộ đồ thể thao bằng vải len nhung màu mận chín vừa vặn với thân hình thanh mảnh của bà. Những ảnh chụp má tôi trước khi kết hôn cho thấy bà cũng từng mảnh mai, nhưng đến cuối đời, ngoại trừ mái tóc phai màu, còn lại đều phát phì và chảy xệ. Khi qua đời, bà vẫn còn đội mái tóc giả được kết từ tóc người thật mà tôi tặng dịp sinh nhật. Mái tóc uốn gợn sóng của Mimi trông giống bộ tóc giả, có điều tóc của Mimi dày và rậm tự nhiên, khởi từ da đầu tạo thành những lọn sóng nâu đỏ, kiểu tóc của một phụ nữ ngoài năm mươi.
“Tôi mong gặp cậu biết bao lâu nay!” bà nói, siết chặt cả hai tay tôi trong tay bà. Da mặt bà màu vỏ trứng gà nhạt và mượt mà một cách không tự nhiên như vớ ni lông.
“Cám ơn dì,” tôi nói. Tivi đang phát bài hát một cô tóc xoăn xù, mặc áo chẽn vải vinyl đen cùng váy ngắn bằng da màu đỏ. Phía trên tivi là phiên bản sơn mài đã phai màu của bức Bữa Tiệc Ly, với Giêsu và các tông đồ được đóng khung bằng đèn nê ông hồng. Ba tôi va vào tôi khi ông bước đến sofa, và tôi nói, “Cháu cũng nghe nói nhiều về dì.”
Ba tôi tăng âm lượng tivi lên. “Nó muốn đi tiểu.”
“Dĩ nhiên rồi.” Mimi vẫn mỉm cười khi dẫn tôi theo hành lang vào phòng tắm, tôi nhăn mặt với bà trước khi đóng cửa. Phòng tắm sạch tinh tươm và có mùi của hoa khô ướp hương liệu, không giống phòng tắm trong những căn nhà thuê nơi tôi lớn lên, vốn luôn ngai ngái mùi nấm mốc của tấm màn nhựa dẻo và mùi amoniac. Sau một quãng thời gian phải đạo, tôi giật nước bồn cầu. Trong xe tôi đã nói với ba rằng mình cần dùng phòng tắm chỉ để có thể nhìn mặt người phụ nữ này, và biết bà ấy sống thế nào. Khi xem qua tủ thuốc, tôi chỉ thấy thuốc aspirin, các loại kem dưỡng da, và nhiều loại nước sơn móng tay. Tôi mong sẽ thấy một gói Viagra mẫu chào hàng, giống cái gói mà Sam, vợ cũ của tôi từng tìm thấy trong mớ dụng cụ vệ sinh cá nhân của ba tôi sau khi ông vô ý nhờ cô ấy lấy cho mình đồ cắt móng tay.
Khi trở ra phòng khách, tivi đã tắt, và ba tôi đang ngồi ở sofa đọc báo. Mimi đang pha cà phê ở cái quầy ngăn phòng khách với khu bếp, ở đó có một ô cửa trên mái nhà soi sáng bếp lò bằng thép không gỉ và cái bếp điện. Má tôi đã nấu nướng trên bếp gas kiểu xưa có một ngọn lửa mồi hay bị tắt, và khi bà vẫn đang làm bếp thì chứng phình mạch bỗng cướp bà đi hồi năm ngoái ở tuổi năm ba. Tôi nghĩ chính cái chết bất ngờ khi còn quá trẻ của bà đã hạ gục ba tôi trong đám tang, hơn là nỗi đau đớn hoặc choáng váng của việc tìm thấy bà nằm trên sàn lót vải sơn, trong lúc nồi xương gà còn đun liu riu trên miệng bếp.
“Cậu muốn cho sữa vào cà phê không?” Mimi hỏi.
“Cháu rất tiếc,” tôi nói. “Cháu phải đi đây.”
“Nhưng cậu mới tới mà. Tôi còn có bánh quy với bánh mì sừng bò nữa.”
“Cháu đưa ba cháu đến nên ghé vào thôi.” Trên bệ lò sưởi là bức ảnh đen trắng lồng trong khung bằng gỗ hồng của một người đàn ông gầy gò ngoài sáu mươi, đeo kính và mặc đồ sẫm. “Xe của ba cháu bị trộm mất tối qua.”
“Tôi có nghe tin. Sống ở Los Angeles là thế.” Mimi nhận ra tôi đang nhìn bức ảnh. “Chồng tôi mất năm năm trước. Ông ấy từng là thượng nghị sĩ.”
“Nó phải đi rồi.” Ba tôi đặt tờ báo xuống và đứng dậy. “Thằng bé làm tới hai việc.”
Tôi đã ba mươi ba tuổi, nhưng ba tôi không nghĩ ai đó là đàn ông thực thụ cho đến khi người đó có con. Ông có năm con với má tôi. Cả ba đứa con trai đều đã cao hơn ông, nhưng phần lớn mọi người, kể cả tôi, thường quên mất chiều cao của ông. Người ta chỉ nhớ rằng ông là người ngực nở với hai cánh tay vạm vỡ vốn vẫn chắc nịch y như hồi tôi còn nhỏ thường bám vào đánh đu. Thân hình ông vẫn gọn gàng để mặc vừa quân phục ngụy trang cũ của lính nhảy dù hồi chiến tranh. Gần đây, mấy tháng ông mới lôi bộ đồng phục ấy ra một lần, để bước đều trong toán vệ binh danh dự cho các buổi diễu hành và tưởng niệm ở Little Saigon. Ông luôn làm thế với cái nhìn đăm đăm mà Sam còn nhớ ngay lần đầu họ gặp nhau, khi cô thấy mình không rời mắt khỏi ông được, cứ như cô là một con thú hoang đứng chết sững dưới cái nhìn của một con thú hoang dã hơn.
Có lẽ Mimi cũng cảm thấy như vậy. Mắt bà hướng về ba tôi dù đang nói với tôi, “Cứ ghé ăn tối bất cứ lúc nào.” Trong thoáng chốc tôi tin bà thật tình nói thế.
Ba đưa tôi ra cửa và chỉ tay vào đồng hồ kiêm la bàn của ông. Mặt đồng hồ to bằng cỡ đồng đô la bạc, thân và dây đã trầy trụa nhưng vẫn còn ngon lành như ngày ông nhận được nó vào năm 1958, tại trường huấn luyện nhảy dù Fort Benning. “Ba muốn sáng mai quá giang về,” ông nói. Rồi ông đóng sập cửa trước mặt tôi.
“Chắc chắn rồi,” tôi nói. “Ba đừng lo.”
Tôi đã quen với cái kiểu ông tiết kiệm với hầu hết các thứ trong đời ông, từ lời lẽ cho đến chiếc xe Honda 82 có cửa sau của ông. Khi ông đến căn hộ của tôi sáu tuần trước, mọi thứ ông sở hữu đều nằm trong cái xe đó, vốn gồm toàn phụ tùng chính hãng cho đến tận cái máy thu thanh dùng nút bấm chỉ bắt được những đài AM đầy tạp âm và nhiễu sóng. Muốn tỏ ra ân cần, tôi thò tay đến cái vali. Ngay lúc cố nhấc nó lên, tôi biết mình đã sai lầm. Chắc là nó chứa cả bộ tạ của ông, và nhiều giây lặng lẽ trôi qua khi tôi cố sức dùng cả hai tay lôi cái vali đó ra khỏi thùng xe. Sau cùng, khi tôi đưa được nó xuống lề đường, ông thở dài và đón lấy nó từ chỗ tôi, nhấc nó lên bằng một tay và ôm nó bên hông. Rồi ông hất cái túi quân trang qua vai bên kia và quay về phía cầu thang. Ông hất vali lên từng bậc với trợ giúp của cái chân, bỏ tôi lại phía sau với những túi quần áo. Tháng rồi ông được sáu mươi ba tuổi, và mỗi tiếng càu nhàu ông phát ra lại nhấn mạnh một điều mà lẽ ra tôi phải biết từ trước. Sống với ông bây giờ sẽ khó khăn hơn so với hồi tôi còn nhỏ.
Suốt buổi sáng, trong khi tôi xử lý những khoản hoàn trả cho khách và lắng nghe những nhân viên dịch vụ khách hàng của mình, tôi hình dung ba tôi với Mimi nằm ườn trên sofa bọc da trắng, xem kênh truyền hình tiếng Việt. Mimi là người đầu tiên trong số những tình nhân và bạn gái của ba tôi mà tôi được gặp, những phụ nữ bí ẩn mà má tôi đã gào thét với ba tôi đằng sau cánh cửa phòng ngủ của họ khi anh chị em tôi còn nhỏ. Bây giờ tôi đã biết mặt biết tên của người đàn bà đang ngồi kế ba tôi dưới cái nhìn chằm chằm của chồng bà ấy. Ba tôi không chưng ảnh má tôi, như phong tục cho rằng ông nên làm, bên cạnh ảnh của ông bà nội quá cố trên mặt tủ quần áo của ông.
Tôi thấy dễ chịu trong giờ nghỉ ăn trưa khi tôi gọi điện vào số ở nhà của Sam và lắng nghe giọng nói từ máy trả lời tự động của cô. “Xin chào, người lạ,” tiếng cô ấy nói. “Bạn biết phải làm gì rồi đó.” Việc dạy hình học cho học sinh lớp mười đã luyện cho cô cách ăn nói dịu dàng và dễ chịu. Sam được học trò yêu mến, giống ba tôi với những học trò của ông ấy. Ông là thầy giáo tư vấn học đường ở trường trung học, và mỗi Giáng sinh, các cựu học sinh thường gởi cả mấy chục tấm thiệp cho người đàn ông mà chúng yêu mến gọi là Ông P, để cập nhật thông tin cho ông về sự nghiệp và gia đình của chúng. Tôi không chắc liệu học trò của Ông P có bao giờ tưởng tượng thầy mình có bồ không, hoặc tưởng tượng được rằng ông có lần, trong quá khứ, từng nhảy khỏi máy bay và chỉ huy một tiểu đoàn nhảy dù. Với học trò, ông chỉ nói rằng mình từng đi lính. Ông là mẫu người khiêm tốn không thích nói về cuộc sống khác của mình với người quen hoặc với chính con cái của ông nhiều hơn mức tôi nói với đồng nghiệp của tôi về những chuyện như vào cuối ngày làm việc, tôi lái xe tới bãi đậu của một cửa hàng tiện lợi và thay quần áo ngay trên băng ghế trước, tròng vội cái quần rộng màu xám và một áo khoác mỏng màu đỏ. Các đồng nghiệp biết tôi là trưởng phòng dịch vụ khách hàng cho một công ty ở Burbank chuyên bán đồ trợ thính, bình oxy, và xe lăn có động cơ, nhưng ban đêm tôi là bảo vệ ở một cao ốc hạng sang ở khu Wilshire Corridor gần cơ sở Los Angeles của trường Ðại học California. Không ai có thể bảo rằng tôi lười biếng, như Sam đã thừa nhận trong một lần chúng tôi cãi nhau hồi năm ngoái.
Công việc này thật tốt, bởi vì sau khi Sam bỏ tôi và má tôi mất, tôi không còn ngủ được nữa. Những đêm ở khu cao ốc hạng sang thật yên tĩnh và tôi chẳng phải làm gì. Thỉnh thoảng tôi đứng dậy thả bộ qua các sảnh, cầu thang, và bãi xe dưới hầm, nhưng chủ yếu tôi ngồi ở hành lang lót đá hoa, quan sát mọi ngóc ngách của cao ốc qua một dãy những màn hình video. Khi không đọc mấy tờ báo mà tôi mua sẵn, tôi chơi bài solitaire[16]. Giữa hai ván tôi thường rút ngẫu nhiên một lá bài, và nếu nó là con ách chuồn, tôi gọi cho Sam. Nếu cô ấy nhấc máy, tôi chẳng nói gì cả, chờ xem cô ấy sẽ nói “A lô?” mấy lần trước khi gác máy.
Cô ấy là một phụ nữ kiên nhẫn, nhưng sự kiên nhẫn đã cạn kiệt vào năm ngoái, khi cô ấy ba mươi bốn tuổi. Chúng tôi đã đến nhà hàng Palms Thai trên đường Hollywood để mừng sinh nhật của cô, vì cô là người hâm mộ ca sĩ Thai Elvis nhảy điệu shimmy và sáng lấp lánh trên sân khấu trong trang phục thay đổi hằng đêm. Tối đó, anh ta mặc bộ đồ màu vàng bóng nhẫy kiểu phụ nữ khi hát một phiên bản tàm tạm của bài (Let Me Be Your) Teddy Bear, thỉnh thoảng lại đẩy cặp kính nhuộm hồng trên sống mũi bằng một ngón tay đeo nữ trang.
“Em muốn có con, Thomas.” Sam vuốt một sợi tóc dài ra sau tai, gần như bẽn lẽn. “Và em muốn có con với anh.” Sợi tóc được nhuộm tím, trong khi phần còn lại của mái tóc vẫn là màu nâu tự nhiên. Một hạt kim cương bằng cỡ đầu cây đinh ghim lấp lánh trên cánh mũi trái của cô, và những mẫu tự tên tắt của tôi được xăm bằng mực xanh trên cổ tay phải của cô, dùng để nhắc nhớ đến tôi mỗi khi cô xem đồng hồ như cô ấy nói. Vì lý do nào đó tính cách nổi loạn của cô đã thu hút ba tôi, đến mức sau khi hai đứa tôi ly dị, ông ấy nói tôi mới là kẻ đáng trách.
“Anh không biết mình đã sẵn sàng chưa,” tôi bảo Sam. Ðây không phải lần đầu chúng tôi nói đến chuyện này. “Anh không biết anh có tốt với trẻ con không.”
“Vượt qua chuyện đó đi, Thomas. Anh sẽ không trở nên như cha anh đâu.”
Ba tôi là người mà trong gần chục năm, đánh thức tôi và mấy anh em trai trên cái sofa giường tại nhà lúc bình minh để tập thể dục với ông. Chúng tôi hít đất với đứa em gái nhỏ ngồi trên lưng, và tập nằm rồi ngồi bật dậy với cuốn từ điển Webster trên ngực. Chúng tôi chạy qua một đoạn chướng ngại gồm những vỏ xe cũ trong sân sau và dùng một nhánh sồi làm thanh xà đơn, căng sức mình và càu nhàu cho đến khi buông tay rời khỏi cành cây. Sau đó, chúng tôi tập bắn súng với một khẩu súng hơi BB, nhắm vào những lon bia Budweiser đựng đầy cát. Rồi chúng tôi chạy vài dặm, không dừng lại cho đến khi có đứa ói mửa, bằng chứng rằng ba tôi đã đạt mục tiêu biến chúng tôi thành đàn ông.
“Ông ấy điên.” Tôi nghĩ Sam có thể thấy những rủi ro. “Em không lo rằng anh sẽ xây dựng đội quân của chính anh sao? Hay giấu một bạn gái ở đâu đó?”
“Như em nói.” Sam tự rót một ly nước từ cái bình trên bàn. “Anh đâu phải cha của anh.”
Ca trực của tôi kết thúc lúc bình minh. Phải mất bốn mươi phút chạy xe từ Westside đến căn hộ của tôi ở Eastside, trên một đường nhỏ rẽ ra từ đoạn lên dốc của đại lộ Sunset, không xa nơi mà đại lộ này trở thành đường César Chávez. Những chiếc xe ăn cắp và những trực thăng cảnh sát lởn vởn là chuyện thường gặp ở khu Echo Park, nơi tôi dọn đến sau khi ly dị. Lúc má tôi mất vào mùa hè đó, tôi hiểu cô đơn nghĩa là gì, và vào ngày sau tang lễ, e rằng ba tôi cũng có thể thấy cô đơn, tôi rủ ông về sống với tôi. Tôi không dự trù là ông đồng ý ngay.
Hôm nay là ngày tôi được nghỉ ở cả hai chỗ làm, nhưng sau khi ngủ được mới hai tiếng, tôi thức dậy, tắm rửa, cạo râu, và thay quần áo trong mười lăm phút. Nửa giờ sau, tôi đã chạy từ Echo Park tới khu của Mimi, trung tâm của người Hoa trên đại lộ Atlantic và Valley. Bà mở cửa với bộ đồ thể thao len nhung màu mận chín. Cha tôi đang tắm sau khi chạy bộ buổi sáng, và bà nhất định pha cho tôi một tách cà phê. Tôi nghe tiếng ông hát trong buồng tắm khi Mimi trở ra với một ly nước đá trên tay này và một ly khác đựng sữa đặc trên tay kia, chồng lên đó là phin cà phê bằng thép không gỉ. Trong khi chờ cà phê chảy xuống, bà mỉm cười và nói, “Cha cậu rất khen ngợi cậu.”
“Nhưng không nhiều như khi nói về dì.”
“Ông ấy nói cậu làm trong ngành y.”
“Cháu bán máy trợ thính. Buổi tối cháu làm bảo vệ trực đêm ở một khu căn hộ cao cấp.”
“Tôi hiểu.” Chúng tôi nghe tiếng nước ngưng chảy.
“Ðó là khu chung cư đắt tiền,” tôi nói. “Phụ nữ mặc đồ lông thú chỉ vì họ dư tiền mua nó.”
Khi Mimi lại mỉm cười với tôi, một cái răng vàng lấp lánh trong góc sâu của hàm răng. “Thanh niên như cậu mà vắng phụ nữ thì thật không tốt,” bà nói. “Cha cậu nói cậu thậm chí chẳng hẹn hò gì.”
“Cháu đang phục hồi.”
Mimi không để ý tới nhận xét của tôi và bắt đầu mô tả những phụ nữ trẻ mà bà biết trong ngôi đền bà thường tới, cũng như những cô hàng xóm ngày xưa của bà ở Cần Thơ, họ đều tìm kiếm những tấm chồng có hộ chiếu Mỹ. Phụ nữ Việt, bà chồm tới gần, đặt tay lên đầu gối của tôi và nói, là bạn tình cho đàn ông tốt hơn nhiều so với phụ nữ Mỹ vốn thiếu kiên trì và đòi hỏi nhiều. Phụ nữ Việt chăm sóc người đàn ông của họ, yêu thương họ, và những cô như thế thích mẫu người như tôi, không quá Mỹ hay quá Việt. Bà hất đầu về phía ba tôi, người vừa xuất hiện ở ngưỡng cửa, đã mặc đồ xong xuôi với áo sơ mi kín cổ và quần rộng không nhăn. Phớt lờ bà, ông nhìn tôi và nói, “Hôm nay mình sẽ đi thuê một chiếc xe”.
“Tối nay anh trở lại không?” Mimi hỏi.
“Mai,” ông nói. “Bây giờ uống cà phê nhanh đi trước khi đá tan hết.”
Ngay khi tôi uống xong, ông kéo tôi ra. Ông chẳng nói gì với tôi trong xe, lắc lanh canh những chìa khóa trong túi cho tới khi chúng tôi dừng hẳn ở chỗ giao nhau của hai đường cao tốc Harbor và Hollywood. Một đội trực thăng săn tin uể oải đảo vòng trên đường cao tốc ở xa xa về phía trung tâm thành phố, những tòa tháp chọc trời ở đó chỉ là những bóng mờ ma quái chìm sau màn sương khói bụi. Tôi đốt một điếu thuốc, và ba tôi hạ kính cửa sổ xuống. Sau khi má mất, ông bỏ thói quen hút mỗi ngày một gói, cho dù bà chưa bao giờ khó chịu với khói thuốc của ông, bà chỉ phàn nàn về chứng đau nửa đầu vốn buộc bà phải tắt đèn trong phòng ngủ và nằm xuống. “Cái đầu tôi,” bà thường rên. “Cái đầu tôi.”
“Lần cuối con nói chuyện với cô ấy là lúc nào?” ông hỏi.
“Ai?” Tôi tưởng ông muốn nói tới má tôi.
“Sam.”
“Mấy tháng rồi.” Tôi phà khói ra ngoài cửa sổ. “Cô ấy gọi điện để chia buồn về chuyện của má.”
“Làm sao con kéo nó trở lại được nếu không nói chuyện với nó?”
“Ba lo chi chuyện đó.”
“Con chịu thua dễ dàng quá.” Sam cũng nói với tôi như thế ngay sau lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau, năm cuối đại học. “Nhìn con đi,” ông nói.
Tôi kềm mình lại. “Con bị cái gì?”
“Con tăng cân. Con không chải tóc.” Ông búng vào quần của tôi. “Con cũng không ủi quần áo nữa. Ðàn ông phải tự ủi quần áo cho mình.”
“Con tưởng má ủi đồ cho ba chứ.”
“Vấn đề là trông con tồi tệ quá.” Ông vỗ vào bảng đồng hồ để nhấn mạnh. “Mỗi ngày con hút mấy điếu?”
“Sáu bảy điếu gì đó.”
“Dụi nó đi.” Khi tôi chẳng làm gì, ông giật điếu thuốc trên môi tôi và ném ra ngoài cửa sổ, rồi bấu tay vào lớp mỡ quanh bụng tôi, siết nó rất mạnh. “Thậm chí rờ con thấy y như phụ nữ.”
“Chúa ơi!” Tôi gạt tay ông ra. “Ðừng làm vậy mà!”
“Tướng tá con thế này thì không đời nào kéo Sam trở lại được.”
“Ai nói con muốn kéo cô ấy lại?”
“Ðừng ngốc vậy. Con mới là một nửa đàn ông trước khi gặp nó, rồi bây giờ con lại trở về cảnh một nửa đàn ông.”
Qua cửa sổ gần mình, tôi nhìn được vào trong chiếc Mitsubishi lùn ngay kế xe tôi, trong đó những màn hình tivi nhỏ xíu, được gắn trong khối tựa đầu tùy ý điều chỉnh, đang chiếu cảnh của một xa lộ đông nghẹt. Ống kính quay sát vào một nhóm cảnh sát tuần tra quốc lộ mặc đồng phục nâu móc súng thủ sẵn, vây quanh một chiếc xe. Ðó là xa lộ chúng tôi đang đi, được thu hình trực tiếp từ một trực thăng săn tin.
“Còn ba thì sao?” tôi hỏi. “Ba định cưới dì đó hả? Và rồi tìm thêm bồ bịch nữa sao?”
Ai đó phía sau tôi đang bấm còi, và rồi xe trên khắp xa lộ nối tiếp âm thanh đó. Tôi nhớ má tôi từng có lần kéo tôi sang một bên, khi tôi mười một hay mười hai gì đó, gạn hỏi xem ba tôi biến đi đâu vào những tối thứ Sáu. Tôi không biết gì cả. Vì lý do nào đó câu hỏi của bà khiến tôi kinh hãi hơn lần bà đuổi ông vào tận phòng tắm. Khi ông gài cửa ngăn bà lại, bà cố đập bể nó bằng một cái ghế, chân ghế để lại những lỗ to bằng nắm tay trên tấm cửa hai lớp.
“Sam là phụ nữ tốt.” Ba tôi thò tay nhấn còi một, hai, rồi ba lần. “Con lẽ ra đừng bao giờ để nó bỏ đi.”
Như để chứng tỏ mình là con người nhỏ bé ra sao, tôi bật khóc.
Ba tôi nhìn thẳng phía trước, và tôi biết ông hẳn đang nghĩ tới đám tang. Ông không nhỏ giọt nước mắt nào trong buổi lễ ở nhà thờ, và tôi cũng vậy, nhưng khi tôi chở ông từ nhà thờ tới nghĩa trang, có gì đó trong tôi vỡ òa, và nước mắt tuôn ra. Lúc đó ba tôi cũng đã ngưng nói. Tôi nghĩ chắc ông lo về những khả năng tôi gây tai nạn. Chỉ đến khi tôi ngưng khóc ông mới nói tiếp về đêm thức canh xác. Nhưng hôm nay, với tiếng còi vang tứ phía, ba tôi thở dài và nói, “Thế là đủ. Ðến lúc chúng ta phải làm gì đó với con.”
Dòng xe cộ bắt đầu di chuyển. Còi xe im tiếng, và ba tôi bật máy thu thanh, chọn một đài chơi nhạc nhẹ trong đó Paul McCartney với Stevie Wonder đang hát Ebony and Ivory. Tôi không hiểu ý ông muốn gì khi nói “làm gì đó”, vốn là điều ông nói mỗi lần ông sắp phạt mấy anh em tôi. Ðó cũng là điều ông nói vào một ngày hồi học lớp bốn tôi về nhà và mách lại rằng một đứa ở cùng con phố đã nhổ vào bữa trưa gồm cơm và cá mòi mà má tôi bới vào hộp cho tôi. Rồi thằng đó gọi tôi là lính lác mắt lé.
Ba tôi lúc đó chưa làm giáo viên tư vấn học đường ở trường trung học. Ông là người bảo vệ ca đêm tại một cao ốc văn phòng ở khu kinh doanh và học thêm ở trường Ðại học bang California. Mặc nguyên đồng phục bảo vệ, ông bắt tôi đi cùng từ căn hộ của chúng tôi tới nhà của thằng kia, ở đó tôi đứng chờ ở lề đường trong khi ông bước lên hàng hiên và gõ vào cánh cửa trước. Người đàn ông bước ra hiên cao hơn ba tôi cỡ hai tấc, và mặc cái quần yếm màu xanh của thợ máy không cài dây kéo ở phía dưới bụng. Lông màu nâu loăn xoăn mọc đầy trên mu bàn tay, trên phần ngực áo thun hở ra, và từ cả trong tai ông ta nữa – mọi nơi ngoại trừ đỉnh đầu ông ta.
Tôi không nghe họ nói gì, cả hai nói bằng giọng trầm, giận dữ, cho đến khi ông bố kia nói, “Ðừng mong tôi làm chuyện đó.” Ba tôi đá vào háng ông ta mà không nói một lời hay cảnh báo gì cả, và, khi ông ta gập người lại, ba tôi đấm thêm vào cổ họng. Sau khi ông ta té sấp mặt xuống hàng hiên, tôi thấy con trai ông ta đứng sau lớp cửa lưới, mắt mở thô lố. Ba tôi không buồn nhìn ra sau khi ông bước lui về phía tôi. Không có niềm vui hay hào hứng nào trên mặt ông khi ông đặt tay trên vai tôi, và trong thoáng chốc tôi nghĩ ông sẽ bắt tôi đánh nhau với con của ông kia. Nhưng với bàn tay đó ông chỉ làm một việc là dẫn tôi về nhà, nhẹ nhàng vỗ vào tôi suốt quãng đường mà chẳng nói gì cả.
Chúng tôi chọn thuê một chiếc xe tại bãi xe Enterprise ở Los Feliz, một chiếc xe bằng cỡ cái xe dùng trong sân golf và chỉ mạnh hơn chút đỉnh. Rồi ba tôi đưa tôi tới tiệm hớt tóc quen của ông trong khu phố Tàu cũ kỹ, trong một hẻm nhỏ trên đường Broadway, ở đó một ông có tóc màu cam và đeo một sợi thắt lưng nhiều núm lướt cái tông đơ qua mái tóc tôi và cười khoái trá về thời huy hoàng của ông ta với những ả điếm hai chục đô ở Sài Gòn. Sau khi ông ta làm xong, tôi không chắc cái nào xấu hơn, chiếc xe Ford mới thuê hay cái đầu mới hớt của tôi, vì nó cụt ngủn nên tôi trông cứ như vừa bị tống khỏi quân đội. Tối hôm đó, tôi cảm được làn gió dịu nhẹ trên da đầu mình, thổi từ Baldwin Hills tới ngưỡng cửa nhà Sam. Cô đã dọn tới đây sau khi ly dị, một căn nhà phố trên đại lộ La Cienega, nhìn xuống một cánh đồng đầy những cần trục giếng dầu.
“Ðây là một sai lầm,” tôi nói.
Ông gõ vào cánh cửa. “Chúng ta không gặp con bé lâu rồi, và chúng ta sẽ chỉ nói chuyện.”
Ba tôi có nói chúng tôi sẽ có lợi thế của sự ngạc nhiên, cho dù chúng tôi ở trên phần đất của Sam. Vì ông đang già đi, nên đây là một phần kế hoạch của ông nhằm làm gì đó cho tôi. Ông đã quên không dự tính hoặc chuẩn bị cho một kịch bản xấu nhất. Tuy nhiên, dù ông có nhớ, tôi cũng không tin rằng ông có thể chuẩn bị cho thực tế rằng khi Sam mở cửa, cô ấy có thể đang mặc một áo đầm bầu với những diềm xếp nếp của loại vải nhiễu có bề mặt gợn sóng, khiến cái bụng u lên của cô trông như một túi piñata.[17]
“Ồ,” cô kêu lên. Mái tóc của cô được cắt gọn giống một cậu bé tóc vàng phụ việc trong khách sạn, chân tóc màu nâu còn lộ rõ. “Không ngờ lại gặp hai người ở đây.”
“Em có bầu kìa,” tôi nói.
“Anh thật tử tế khi nhận thấy điều đó, Thomas. Xin chào, bác P.”
“Ồ,” ba tôi nói. “Xem con kìa.”
“Gặp được bác thật vui.” Sau lưng cô, có giọng ai đó đang nói chuyện trong tivi đặt ở phòng khách. “Cháu không có ý thô lỗ, nhưng lẽ ra hai người nên gọi điện trước.”
“Cha con anh chỉ chạy xe dạo chơi thôi,” tôi nói. “Rồi ba và anh nghĩ nên ghé qua.”
Sam biết ba tôi và tôi chẳng bao giờ đi xe cùng nhau chỉ để vui chơi, nhưng cô vẫn ra hiệu cho chúng tôi vào như thường. Tôi dự trù có một người đàn ông khác trong nhà và đi vào một cách dè dặt, nhìn sang hai bên trước khi bước vào. Những chồng bài kiểm tra của học sinh được xếp theo cấp lớp trên mặt thảm xù lông dày màu xanh bơ, kế mấy cái chân mạ kền của một sofa bọc vải giả da màu đen mà chúng tôi mua cùng nhau trong những tiệm của người Hàn Quốc trên đường Western Avenue. “Xin lỗi vì bề bộn quá,” Sam nói, thả người xuống sofa.
Ba tôi chiếm cái ghế bành, và tôi buộc phải ngồi ở đầu kia của sofa cùng với cô. Tôi đụng đầu ngón chân vào một chồng bài kiểm tra, một chữ C màu đỏ được ghi ở tờ trên cùng. “Tụi nhỏ làm bài không khá lắm ha.”
“Em nghĩ mình đang mất dần kỹ năng,” cô nói.
Người ta bảo phụ nữ có bầu thường tỏa sáng với tình yêu và kỳ vọng theo một cách rất đẹp. Tôi luôn tưởng tượng sự tỏa sáng này là một thứ hào quang, nhưng thứ tỏa ra từ khuôn mặt hum húp của Sam chỉ phản chiếu một vẻ đờ đẫn của dầu và mồ hôi. “Em không còn sinh động trong lớp như mọi khi nữa,” cô nói tiếp. “Nó lây lan qua học sinh.”
“Thầy cô giáo thì phải làm gương mà,” ba tôi nhận xét.
“Thì bác vẫn luôn nói thế, bác P.” Cô nhắm mắt lại một lát, cứ như mệt mỏi. “Nếu thích bia, hai vị có thể tự lấy. Mỗi khi đứng dậy chắc em phải nhờ tới cái cần cẩu.”
“Em có bia hả?” tôi hỏi.
“Ðể dành sẵn cho khách.”
Chúng tôi lẽ ra phải từ chối theo phép lịch sự, nhưng ba tôi lập tức vào bếp lấy bia. Sam đặt hai tay lên bụng và nhìn tôi không chút cảm giác gì. “Anh sống thế nào, Thomas?”
“Làm việc. Rồi ngủ.”
“Em cũng vậy.”
“Ba đã dọn tới ở chung với anh.”
Cô bật cười. “Vậy chắc thú vị lắm. Ai lo nấu nướng?”
“Dĩ nhiên, ba anh là đầu bếp.” Ba tôi trở ra với hai chai bia, một tô bánh quy xoắn, và một ly nước. “Bậc thầy mì gói.”
“Cám ơn, bác P,” Sam nói khi ba tôi đưa cho cô ly nước. “Em cần giải bớt nhiệt. Em đang bị một đợt bốc hỏa.”
Chúng tôi rơi vào im lặng và xem chương trình trên tivi, về sự tàn bạo của những cách làm trong ngành chế biến thịt. Khi ba tôi phá vỡ im lặng và khen ngợi cô về ngôi nhà, Sam giải thích rằng phần lớn những món trang trí là của bạn chung nhà của cô, một thầy giáo khác mà tối nay không có ở đây. Ba tôi trỏ miệng chai bia về phía tivi, trên nóc tivi là một ống tẩu, tạc bằng gỗ tếch và có hình con rồng với một viên thuốc phiện trong miệng. “Con mua cái đó ở đâu vậy?”
“Huế.” Cô gọi tên thành phố đó với dấu nhấn lên chính xác. “Nhưng không hút gì được với nó đâu.”
“Ði Việt Nam rồi hả?” Ba với tôi hỏi cùng một lượt.
“Hè năm ngoái. Con không dạy lớp hè và thay vào đó thì đi du lịch ba lô. Ðôi khi,” cô ngưng lại, “con gái chỉ cần một kỳ nghỉ.”
“Có nghĩ tới anh không?” Tôi hỏi.
Sam trở mình trên sofa, tách hai chân ra rồi bắt chéo lại, hai cổ chân và bắp chân sưng phù. “Dĩ nhiên em có nghĩ tới anh.” Cô mỉm cười với tôi cứ như tôi là một học sinh của cô. Rồi cô nhìn sang ba tôi, ông đang ngắm nghía trần nhà phun xi măng. “Cũng nghĩ đến bác nữa, bác P.”
“Bác sẽ không bao giờ trở lại.” Ông gõ nhẹ chai bia vào bàn cà phê. “Con không biết chính quyền mới. Còn bác thì biết.”
“Họ đâu có tệ lắm. Họ chỉ muốn sống cuộc đời của mình thôi.”
Ba tôi lắc đầu như nhấn mạnh. “Cháu là người nước ngoài. Cháu chẳng biết gì cả. Họ lấy tiền của cháu và nói những lời tốt đẹp với cháu.”
“Có lẽ bác nên quay lại,” Sam nói lặng lẽ. “Có thể bác sẽ tìm được kết luận thỏa đáng.”
“Bác không bao giờ trở lại đâu.” Ba tôi kéo ngón trỏ ngang qua cổ họng của ông và phát ra một âm thanh nghẹn trong yết hầu. “Nếu bác trở lại, họ sẽ gọi bác là tội phạm chiến tranh. Họ sẽ tống bác đi học cải tạo, và cháu sẽ không còn nghe tin gì về bác nữa.”
Sam choãi người khỏi sofa, đứng dậy trước khi ba tôi bắt đầu nói về điều xấu xa mà họ đã làm hoặc có thể làm. Ông có thể kể những câu chuyện đó nguyên cả buổi tối. “Xin phép,” Sam nói. “Cháu phải đi vệ sinh.”
Sau khi cô ấy đi, ba tôi quay sang tôi và suỵt nhẹ, chỉ vào bụng ông và đưa tay vẽ một đường tròn trong không khí. Tôi làm lơ ông và đứng dậy để tìm quanh phòng khách những dấu hiệu của một người đàn ông. Tôi chỉ thấy những món trang trí từ cuộc sống chung của chúng tôi. Tôi đã cho Sam mọi thứ khi ly dị ngoại trừ một nửa số tiền, nhưng tôi không ngờ cô ấy trưng bày khơi khơi mọi món kỷ niệm. Trên bệ lò sưởi là mấy tượng nhỏ các vũ công múa hula mua trong tuần trăng mật của chúng tôi ở Hawaii, và trên kệ sách là khối pha lê chặn giấy có hình con cá heo mà chúng tôi mua ở Puerto Vallarta. Bên dàn sưởi là bản in tác phẩm nhiếp ảnh của Robert Doisneau mà tôi mua cho cô ấy vào năm cuối đại học, bức ảnh trắng đen mô tả một người đàn ông và một phụ nữ hôn nhau trên đường phố Paris.
Cạnh cục chặn giấy là hộp sơn mài khảm xà cừ để đựng nữ trang, món này tôi chắc cô mua ở Việt Nam. Hai đứa tôi thường nói chuyện viếng xứ đó, nhưng tôi chưa bao giờ thực sự muốn đi. Tôi không ra đời ở đó, má tôi sinh tôi trong một trại tị nạn ở Guam, nơi ba tôi đặt tên cho tôi theo ông cố vấn Mỹ từng tặng ông cái đồng hồ la bàn. Tôi không hiểu cái gì đã thu hút Sam tới Việt Nam, ngoại trừ, có lẽ thế, nhu cầu tìm câu trả lời thỏa đáng cho chính cô. Có thể cô đã tìm được. Cô có vẻ hạnh phúc khi đem ra hai phong bì đựng ảnh chụp trong chuyến đi và kể cho chúng tôi những câu chuyện sau mỗi bức. “Một xứ sở xinh đẹp,” cô nói, điều mà ai cũng nói về đất nước đó. “Nghèo và nóng, nhưng đẹp.”
Ba tôi bất giác ậm ừ hài lòng khi ông xem những bức ảnh. Sam đã hạ cánh ở Sài Gòn rồi du hành ra phía Bắc tới Huế và Hà Nội, với những chuyến ghé thăm Vịnh Hạ Long và vùng núi Sapa. Hầu hết những chốn đó ba tôi chỉ được đọc qua, vì chiến tranh không cho thế hệ của ông thăm thú đất nước của chính mình. Ông chuyền cho tôi bức chụp Sam trên một con thuyền, đội nón cối và mặc bộ đồ thun đi bộ màu xanh nhạt hiệu North Face mà tôi mua cho cô ấy làm quà Giáng sinh. Những vết tàn nhang của cô đã mờ chìm vào làn da, ửng hồng vì nắng, và cô đang dựa vào một người đàn ông có mái tóc dài màu vàng cát phủ tới vai.
“Cha đứa nhỏ đây hả?” Tôi gí ngón tay mình vào mặt người đàn ông đó.
Cô thở dài. “Ðừng ngốc vậy, Thomas.”
“Chỉ là câu hỏi thôi mà.”
“Anh đã có cơ hội, Thomas. Chúng ta đã có cơ hội.”
Ba tôi nói, “Xin lỗi,” đứng dậy, và đi ra cửa không nói một lời. Sau khi cửa đóng lại, Sam lắc đầu và nói, “Cả hai người chẳng thay đổi chút nào.”
“Anh sẽ không nói thế nữa.”
“Anh thay đổi thế nào rồi, Thomas? Ngoài việc hớt tóc?”
“Em mới là người thay đổi.” Giọng tôi to lên. “Em thay đổi đề tài.”
“Một phụ nữ có thể có con một mình.” Giọng của cô không cao lên như những khi chúng tôi cãi nhau, mà khẽ khàng, như thể bị đè xuống vì đứa con chưa ra đời. “Một phụ nữ đâu cần một người đàn ông để làm cha cho đứa con của họ, Thomas.”
“Em nói trái đất phẳng cũng được.”
“Ôi Chúa ơi.” Cô kéo dài các âm ra một cách mỉa mai, bắt chước kiểu các học sinh nói trong lớp của cô, những đứa cô thường kể khi ăn tối. “Anh đang sống ở thế kỷ nào vậy?”
Tôi muốn hỏi cô đàn bà mà không có đàn ông, một đứa bé mà không có cha, một cậu trai mà không có người đàn ông thì ra cái gì. “Cha nó là ai vậy?”
“Anh chẳng có quyền gì để hỏi em điều đó cả.”
Có lẽ đó là một giáo viên khác, hoặc ai đó cô gặp trên mạng, hoặc một kẻ lạ cùng cô uống say trong một quán rượu vào một tối nào đó. Có lẽ đó thậm chí là một tay hướng dẫn du lịch người Việt may mắn nào đó. Ý nghĩ về những người đàn ông khác đó khiến tôi uống phần bia còn lại, chẳng phải vì ngon mà vì nó cho tôi một việc gì đó để làm hơn là việc ném cái chai vào tivi. Khi tôi uống xong, Sam đứng dậy và đi ra cửa, khiến tôi chẳng có lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo. Chân tôi đặt trên ngưỡng cửa thì tiếng gọi tên tôi bất ngờ khiến tôi quay lại, đầy hy vọng.
“Ðừng trở lại nữa, Thomas,” cô nói. Sau vai cô, người kể chuyện trên tivi đang nghiêm trang nói về những đường ống dẫn của doanh nghiệp và những nhà cai trị độc tài Nigeria. “Anh biết điều đó chẳng tốt gì cho cả hai ta.”
Ba tôi chờ trong chiếc Ford, hút một điếu trong gói Camels tôi để lại trên mặt bảng đồng hồ. Máy nghe nhạc bật sẵn, và bởi vì không thích âm nhạc Mỹ, ông đã mang theo một đĩa CD ghi những bài hát buồn bã của Khánh Ly. Ông thường nói rằng mỗi khi nghe cô này hát, ông thấy như trở lại năm 1969. Tôi chui vào xe và tắt máy nghe nhạc. Con đường trống trải và yên ắng, ngoài tiếng xe cộ rầm rì từ phía đường La Cienega và tiếng sủa của một con chó ở đâu đó trên đồi.
“Ðó là một ý hay,” tôi nói.
Ông ném mẩu thuốc ra khỏi cửa sổ. “Nó có nói con biết tay đó là ai không?”
“Cô ấy không nói.” Tôi nhả thắng tay và cho chiếc Ford chạy vào con đường, hai bên đầy những chiếc xe đậu nối đuôi nhau. Chạy được nửa con phố, ông nói, “Dừng lại.” Chiếc Toyota của Sam nằm ngay cạnh chúng tôi, đầu hướng xuống dốc với những bánh xe quay vào lề đường. Chiếc xe phai màu vì mưa nắng và xám xịt, và trên khung kính sau đầy bụi ai đó đã vẽ một khuôn mặt nhăn nhó.
“Tắt đèn đi,” ba tôi nói. Ông chờ đến khi tôi tắt đèn xong rồi móc con dao Swiss Army ra và bước khỏi xe. Sau khi đi một vòng quanh chiếc Toyota, ông quỳ xuống và tì cánh tay trái vào bánh xe bên phía tài xế, con dao trong tay phải của ông. Ông thọc mạnh con dao vào bánh xe, vạch lưỡi dao cụt ngủn vào lớp cao su trong nhiều giây cho đến khi vết rạch dài cả tấc. Nếu con dao có phát ra âm thanh khi nó được rút khỏi vỏ xe thì tôi cũng không nghe thấy.
Khi lặp lại động tác đó với ba bánh xe kia, ông gập con dao lại, đứng dậy, và xem xét chiếc xe với hai tay chống nạnh. Tôi ngoảnh nhìn qua vai, hai đầu đường, nhưng hè phố vắng hoe, và tuy một số cửa sổ sáng lên với ánh xanh của tivi, nhưng không có ai nhìn ra đường. Khi tôi quay nhìn lại chỗ chiếc Toyota, ba tôi đã biến mất, và trong thoáng chốc tôi nghĩ ông đã bỏ chạy. Nhưng rồi ông hiện lên trong tầm nhìn của tôi từ phía bên kia của chiếc Toyota, một cục đá bằng cỡ trái bưởi trong tay ông. Ông giơ cục đá khỏi đầu, ngưng lại để giữ vững thăng bằng, và rồi ném nó vào chiếc xe, đẩy cả người ông theo nó. Tấm kính chắn gió rạn nứt và thụng vào do cú va chạm, nhưng lớp kính lõm vào ấy không vỡ ra, giữ yên cục đá khi âm vang dội khắp ngọn đồi.
Khi ông chui vào xe, tôi nói, “Ba thiệt là điên, ba biết không?”
“Lái đi.” Ông nói qua hàm răng nghiến lại. “Ðừng bật đèn cho đến khi tới chân đồi.”
Tôi chờ đến khi quẹo góc đường rồi mới bật đèn xe và tăng tốc. “Con hết biết ba luôn.” Tôi đập nắm đấm vào tay lái. “Con không hiểu sao có người lại làm việc như vậy.”
“Nó sẽ kết tội bọn da đen.”
Mọi chiếc xe quanh chúng ta đều có người lái da đen.
“Con không muốn nói điều đó.”
“Thế sao con không nói gì đi?” Ba tôi ngả đầu vào khối nệm kê đầu và nhắm mắt lại. “Lẽ ra con nên hạ kính xuống và chặn ba lại. Con có thể bấm còi, kéo người ta ló ra cửa sổ.”
Chúng tôi chạy qua những cần trục giếng dầu, hiện rõ như những cái bóng có hình dạng của mấy con bồ nông khổng lồ đang làm tổ. Cho đến khi Sam dọn tới Baldwin Hills, tôi không hề biết Los Angeles có cả dầu lửa. Nhưng tôi độ chừng chỗ nào trên thế giới cũng tìm được dầu, giống như sự giận dữ và nỗi buồn. Người ta chỉ cần biết nhìn vào chỗ nào đó là thấy. “Chưa từng có ai nói với ba điều gì ngăn được ba tránh đừng làm điều gì đó ba muốn.”
“Ấy là vì ba tin vào mọi việc ba làm.” Chiếc xe chạy qua chỗ nhô cao trên đoạn dốc vào đường cao tốc Santa Monica, và ông chửi thề, chặn bàn tay vào cổ cứ như một viên đạn vừa sượt qua.
“Có chuyện gì vậy?”
Ông mở mắt ra. “Ba nghĩ mình bị rách cơ.”
“Ba bị vậy là phải rồi.”
“Con không biết được phải với trái đâu.” Không có dấu vết giận dữ trong giọng nói của ông. “Cách duy nhất mà một người đàn ông phân biệt được phải với trái là khi hắn phải lựa chọn.”
“Vậy lừa dối má là đúng sao?” Xa xa ở phía trước, những ngọn đèn rải rác của các cao ốc trong khu trung tâm sáng lấp lánh. “Ðưa má xuống mồ theo kiểu ba làm là đúng sao? Ba tin mình đã làm điều đúng hả?”
Ba tôi thở dài theo kiểu ông vẫn thở vào mọi buổi sáng lúc tôi còn nhỏ, khi ông bước vào phòng khách và thấy chúng tôi còn ngủ, hoặc giả bộ đang ngủ, hy vọng ông có thể quên việc lôi chúng tôi ra khỏi giường. Tôi chờ ông kéo tai tôi hoặc bất ngờ đấm tôi vì đã nói như thế, nhưng ông không làm vậy. Ông giữ im lặng cho đến khi chúng tôi chạy qua khu trung tâm, rồi ông nói, “Ba chưa bao giờ yêu má con.”
“Con không muốn nghe điều đó.”
“Nhưng ba nể má con,” ông tiếp tục. “Bà ấy biết giữ bổn phận. Bà ấy là phụ nữ tốt. Ông nội chọn bà ấy cho ba bởi vì bà ấy đức hạnh, cho dù ông nội biết ba yêu người khác. Và đó là lý do tại sao ba không bao giờ chọn vợ cho con. Ba muốn con tìm được người phụ nữ con yêu.”
“Ðừng nói thế về con.”
“Còn nói về ai khác đây?”
Ông tiếp tục nhắm mắt lại, và từ khu trung tâm tới căn hộ, chúng tôi không nói gì nữa. Khi vào đến phòng ngủ của ông, tôi phải giúp ông cởi áo và nằm xuống, ôm vai ông trong khi ông ôm cổ và đầu mình. Tôi thấy vết sẹo cỡ tấc rưỡi trên ngực ông mà tôi đã thấy mấy lần hồi còn nhỏ, sau khi ông ra khỏi buồng tắm với cái khăn quấn quanh bụng. Vì ông chẳng bao giờ nói với chúng tôi về những việc ông đã làm trong chiến tranh, nên chúng tôi dựng lên những chuyện về việc ông bị bắn qua ngực, hoặc bị ông chồng của cô tình nhân nào đó đâm một nhát. Vết sẹo là một tia chớp đỏ sống động trong ký ức của tôi, vắt xéo giữa xương ức với nơi tim ông, nhưng trong ánh sáng lờ mờ của buồng ngủ, nó chỉ là vệt dây kéo màu hồng giữ lớp da bèo nhèo, chảy xệ trên lồng ngực ông lại với nhau.
Tôi tìm thấy mấy viên thuốc ngủ trong một ngăn kéo của cái bàn cạnh giường ông, cùng với một lọ dầu khuynh diệp và một hộp Salonpas. “Uống một viên đi,” tôi nói, bỏ một viên thuốc ngủ vào miệng ông. Ông nuốt nó luôn không cần nước và tôi lăn người ông qua, vì ngay cả động tác đó cũng buộc người ta dùng đến những bắp thịt cổ. Tôi xoa một ít dầu khuynh diệp vào hai vai và cổ ông rồi bắt đầu xoa bóp. Chốc lát sau là ông thở đều, và khi ông đã ngủ, tôi dán cho ông mấy miếng Salonpas, mùi dược liệu của nó khiến tôi nhớ những lần ông thường dán cho tôi, nhất là sau những buổi sáng tập luyện nặng.
Khi xong xuôi, tôi cầm áo sơ mi của ông lên và mở cửa tủ. Khi cầm tới cái mắc áo, tôi liếc lên tầng kệ bên trên thanh ngang máng mắc áo và thấy bộ tóc giả của má tôi, đặt trên cái đầu bằng nhựa xốp. Tôi không hiểu nổi, giữa mọi thứ trên đời, điều gì đã khiến ông giữ lại món này. Tôi lẹ làng treo áo rồi tắt đèn trước khi về phòng mình. Ở đó tôi nằm trên giường, chờ nghe tiếng những chiếc trực thăng cảnh sát tuần tra trên trời hầu như mỗi đêm hoặc tiếng nhạc rock Tây Ban Nha vốn luôn bốc lên từ cái nhà thờ đông nghẹt tuốt trên đồi. Nhưng mọi sự đều yên lặng và tĩnh mịch kỳ lạ, thậm chí tôi còn nghĩ mình không ở trong căn hộ của mình, và khi nhắm mắt tôi lại thấy khuôn mặt trái xoan của cái đầu đó, nổi bật với cái mũi khoằm và đôi môi mỏng, nét mặt của nó trắng bệch, trống rỗng, và không có mắt khi nó nhìn xuống tôi.
Ngày hôm sau, lúc đã trễ, cảnh sát tìm được chiếc xe Honda của ba tôi trong một phố nhỏ của khu Boyle Heights. Sáng hôm sau, khi tôi ngủ giữa hai ca làm việc, ba tôi đi với Mimi tới nhận lại xe trong bãi xe tang vật. Họ trở về lúc tôi đã thức dậy và đang uống cà phê đen không đường. Ba tôi huýt sáo một điệu nhạc mà tôi không nhận ra khi ông mở cửa. Mimi theo ngay sau ông. “Sau cùng thì phép lạ cũng xảy ra,” ông nói. “Chiếc xe còn nguyên vẹn. Cảnh sát nghĩ nó bị mấy đứa nhóc trộm chỉ để chạy chơi.”
“Ba hên đó,” tôi nói.
“Bọn nhóc quỷ đó còn để lại cho ba một món quà.” Ông cười khùng khục và cho tôi xem một máy nghe nhạc rẻ tiền tháo ráp được trong lòng bàn tay ông, cử động của ông cứng và sượng do cái cổ bị đau. “Ba nghĩ chắc tụi nó không ưa máy thu thanh.”
“Chắc cái máy nghe nhạc đó cũng là đồ ăn cắp.”
“Nếu cảnh sát không phiền gì với nó thì ba cũng không luôn.”
Sau khi ông ra ngoài mang theo máy hút bụi và giẻ để lau chùi chiếc xe, tôi còn lại trong nhà với Mimi. Bà ngồi ở mép của tấm nệm ngủ trên sàn kiểu Nhật, mặc bộ đồ thể thao lụa tím với đôi giày vải màu trắng sạch sẽ, tay khoanh trước bụng khi bà mỉm cười với tôi. Nắng sớm soi qua cửa sổ phòng khách phản chiếu trên mặt lụa và rọi sáng bà trong quầng bụi bốc lên từ tấm nệm. Nhìn thấy bà bên cạnh ba khiến tôi nghĩ có lẽ rốt cuộc Sam đã lựa chọn đúng. Có lẽ khi ly dị tôi, cô đã nghĩ tới ba và má tôi. Có lẽ lúc đó cô đã biết điều mà bây giờ tôi mới biết, rằng lẽ ra họ đừng nên lấy nhau. Sự thật trong chuyện này là ở chỗ ba với má tôi lẽ ra phải lấy những người khác, cho dù, trong trường hợp đó, tôi chắc chẳng hề ra đời.
“Ðôi khi tôi thấy tội cho cảnh độc thân nhà cậu,” bà nói.
“Kìa Mimi.”
“Người giúp việc của tôi làm rất tốt,” bà nói tiếp. “Bà ấy đang tìm chỗ làm thêm trong trường hợp cậu cần người lau dọn.”
“Dì Mimi,” tôi nói. Vị đắng của cà phê giúp tôi nhận ra đầu óc mình tẻ nhạt làm sao.
“Bà ấy nấu ăn cũng gần bằng tôi.”
“Dì biết ông ấy sẽ lừa dối dì, phải không?”
Trong chốc lát bà chẳng nói hay làm gì, nét mặt bà không thay đổi. Tôi nghĩ có thể bà không nghe tôi nói gì, hoặc nếu có nghe, chắc bà choáng quá không phản ứng gì được. Rồi bà đứng dậy, xua đi đám mây bụi bằng một cái phẩy tay. Tôi chờ bà nói gì đó, có lẽ về việc bà khác với má tôi như thế nào, nhưng bà chẳng nói một lời. Thay vì thế, bà bước ra cửa mà không nhìn tôi, nụ cười nằm cố định trên mặt bà, và trong giây lát tôi tin bà ấy có lẽ chỉ là không thèm để ý tới tôi thôi. Nhưng, khi đã đặt tay lên nắm đấm cửa, bà dừng lại và quay nhìn tôi.
“Nói với tôi cái gì đi,” bà nói. Nét cong ở nụ cười của bà uốn thẳng lại thành một đường mảnh, cứng. “Cậu chưa bao giờ muốn trở thành một người khác sao?”
Tôi đi làm. Rồi tôi thay đồ và đi làm tiếp. Gần bình minh hôm sau, tôi về nhà sau ca trực đêm và mệt đến độ thậm chí không ý thức việc bước qua ngưỡng cửa phòng ngủ của mình và thiếp ngủ, mãi đến khi tiếng đập liên hồi đánh thức tôi dậy sau một quãng có vẻ như chỉ vài phút. Ai đó đang đập ở cửa trước. Ðồng hồ báo thức chỉ bảy rưỡi, và khi nhìn xuống, tôi thấy mình vẫn còn mặc quần dài. Áo sơ mi với giày của tôi nằm trên thảm. Tôi chờ ba mở cửa, nhưng khi tiếng đập trở nên quyết liệt hơn, tôi phải bò ra khỏi giường.
Người nào đó cứ tiếp tục đập cửa trước cho đến khi tôi mở nó ra. Sam, đang đứng đó, bàn tay phải giơ lên và nắm lại. Cô mặc áo khoác len đỏ không cài cúc bên ngoài cái áo đen và cái quần đen tương ứng bằng len thun. Bụng bầu của cô lồi ra bên trên lưng quần, và áo của cô bị tuột lên, để lộ ra một mảng da thịt có hình như con mắt. Chỗ giữa rốn trông giống một con ngươi, mống mắt của nó là cái khoen bụng vàng mà cô đã gắn hồi năm đầu đại học trong một đêm say khướt.
“Tôi không biết anh có khả năng làm thế,” cô nói, đi lướt qua tôi.
Ánh nắng phía sau cô chói lòa. Tôi nheo mắt và nói, “Làm cái gì?”
“Cái xe của tôi!” Cô đứng trụ ngay giữa phòng khách để đối mặt tôi. “Tôi mất cả ngày hôm qua để đưa nó đi sửa. Làm sao anh làm vậy được? Làm sao?”
Cái áo khoác bảo vệ trực đêm của tôi được quăng vào chiếc ghế dựa cạnh cửa ra vào, và trong túi áo ngực là phong bì đầy tiền mặt mà tôi vừa rút ở ngân hàng trong giờ nghỉ ăn trưa hôm qua. Kế hoạch của tôi là nhét phong bì không ghi gì cả ấy vào dưới khe cửa nhà cô tối nay. Tôi lấy cái phong bì ấy ra khỏi túi áo và đưa cho cô.
“Cái gì vậy?” cô hỏi, hai tay khoanh lại trên cái bụng bầu.
“Nó đủ để trả tiền sửa xe.”
Sam nhìn cái phong bì một lát và ngần ngừ. Tôi cố đứng im. Nếu tôi mà vung vẩy phong bì hay nói một lời nữa, cô sẽ từ chối nó và rủa sả tôi khi đi ra. Trong khi cô đang cố quyết định, hình ảnh cái khoen bụng và lớp da bụng căng, mượt ở đó của cô khiến tôi nhìn sững. Tôi tự hỏi cô đặt tên cho đứa bé chưa, nếu cô đã biết giới tính của nó, và nhất là cô đã báo cho người đàn ông sẽ là cha đứa bé biết chưa.
“Khi tôi thấy việc anh đã làm với cái xe, một phần trong tôi muốn giết anh luôn,” Sam nói, cầm lấy phong bì. “Nhưng một phần khác lại nghĩ rằng anh quan tâm theo một kiểu kỳ lạ, lóng ngóng hoàn toàn của riêng anh.”
Tôi bước tới và đặt tay lên bụng cô.
“Chủ yếu tôi vẫn muốn giết anh,” cô nói, nhíu mày.
Tôi ép sát hơn và đặt luôn tay kia trên bụng cô, cái rốn và khoen bụng nằm giữa hai bàn tay tôi. Tôi chờ đứa bé đạp hay trở mình trong tử cung, và khi không có gì xảy ra, tôi quỳ xuống và áp tai vào bụng Sam. Có một sinh linh ẩn trong đó, một sinh linh mà nếu tôi giữ được nó trong đôi tay mình thì gần như chẳng có trọng lượng gì cả. Khi tôi lên tiếng, nó dịu nhẹ đến nỗi chỉ có kẻ lạ cuộn mình đằng sau cái khoen bụng kia mới nghe được. Rồi tôi nói lại lần nữa, lớn hơn: “Anh có thể làm cha.” Cảm thấy bàn tay Sam nắm vai mình, tôi nói lại lần thứ ba, chỉ để cả hai đều nghe rõ.
“Ðứng dậy đi, Thomas,” cô ấy nói, cái bụng cô đệm giữa hai chúng tôi.
“Anh biết mình đang nói gì không?” cô hỏi. “Anh có biết gì về việc anh đang làm không?”
“Anh tuyệt đối chẳng biết gì cả,” tôi nói. Sam cắn môi và nhìn xuống, nhưng cô không lui ra. Tôi thấy một mẩu gồm ba đốm đồi mồi ở xương hàm của cô. Chúng chưa có mặt ở đó năm ngoái, khi chúng tôi soạn ra thỏa thuận ly dị với giấy trắng mực đen, không có luật sư mà có một chai rượu vang. Tôi dò theo bờ dốc trên má cô tới xương hàm, nơi mấy đốm đồi mồi xếp hàng như những chấm trên con súc sắc. Một tấm ván sàn cọt kẹt trong phòng của ba tôi báo hiệu rằng ông đã rời giường và rõ ràng đang đứng tựa vào cửa. Sam với tôi quay đầu về phía âm thanh đó, nhưng không nghe thấy gì thêm. Ông đang chờ, giống bọn tôi, những điều sắp xảy ra.

[16] Solitaire: trò chơi bài dành cho một người. (BT)
[17] Piñata: túi vải hay giấy, hoặc bình gốm, đựng kẹo hay đồ chơi được treo cao cho trẻ con đập để lấy quà trong đó. (ND)